Bỏ qua điều hướng

Alaska Của Anh – Tạp Liễu Năng Toa

Nhất Kỳ Nhất Hội

Chương 47

Nhất Kỳ Nhất Hội

· Đọc chương này khoảng 14 phút

3 lượt đọc chương · 310 lượt đọc truyện

Cuối tháng Ba, Thẩm Thư Lâm đã ở nước F được một tuần. Các công việc của dự án cơ bản đã hoàn tất, chỉ còn lại vài chi tiết nhỏ nên anh đã để trợ lý ở lại phụ trách, còn bản thân thì tự đặt vé máy bay đi thẳng Vân Nam vào sáng sớm ngày mốt.

Sau bữa tiệc tối, người phụ trách đối tác lấy ra hai tấm vé, mỉm cười thân thiện nói một tràng tiếng bản xứ, sau đó đưa một tấm cho Thẩm Thư Lâm.

Nhân viên đối tác phiên dịch lại: “Tổng giám đốc Thẩm, nghe nói ngài rất thích uống trà Phổ Nhĩ.” Cách phát âm của anh ta nghe rất lạ. Anh ta nói tiếp: “Sáng mai, tại Martin’s Gallery sẽ có một buổi triển lãm tranh mang tên 《Xuân và Phổ Nhĩ》 do nhà sưu tập tranh nổi tiếng Martin tổ chức tại phòng trưng bày tư nhân.”

“Ngài Gabriel đã có được hai vé, mong ngài có thể cùng đến thưởng thức. Ngày mai là ngày cuối cùng của ngài ở nước F, ngài Gabriel mong rằng ngài sẽ cảm thấy thoải mái như ở nhà.” Gabriel là tên của người phụ trách phía đối tác. Nghe thấy tên mình, anh ta nở nụ cười rạng rỡ, giơ cả hai ngón tay cái lên.

Thẩm Thư Lâm nhận lấy tấm vé xem qua. Bên trên in chủ đề của buổi triển lãm bằng song ngữ: 《Xuân và Trà Phổ Nhĩ》. Nền của tấm vé là một bức tranh vẽ cảnh mặt trời và sương khói trên ngọn cây trà.

Anh mỉm cười nhìn Gabriel: “Được, cảm ơn.”

Gabriel nghe hiểu được hai chữ “cảm ơn”, nụ cười càng rạng rỡ, để lộ hàm răng trắng bóng. Anh ta kéo tay Thẩm Thư Lâm nói không ngừng, còn phiên dịch viên hai bên thì chăm chỉ dịch thuật.

Martin’s Gallery là một phòng tranh tư nhân không quá lớn nhưng rất có tiếng. Người sáng lập là một nhà sưu tập và giám định nghệ thuật nổi tiếng trong giới, có con mắt thẩm định cực cao, phong thái tự do phóng khoáng. Martin vô cùng chân thành với người mình quý trọng, ngược lại cực kỳ lạnh lùng với những kẻ không ưa. Triển lãm được tổ chức theo hình thức mời khách. Mỗi lần tổ chức, Martin đều chỉ gửi vé cho những khách hàng thân thiết mà anh ta trân trọng, số lượng vé rất hạn chế. Lần này cũng như thường lệ, Martin chỉ gửi đi 200 tấm vé.

Sáng hôm sau, tài xế của Gabriel chở hai người đến phòng tranh.

Cả hai ký tên đăng ký ở cửa. Sau khi nhân viên đã xác nhận vé, mỗi khách có thể đi cùng một trợ lý, vì vậy hai phiên dịch viên cũng theo họ vào trong phòng tranh.

Trong tiếng nhạc cổ điển nhẹ nhàng, những người tham quan đang trao đổi khẽ khàng. Thẩm Thư Lâm cầm một quyển sách nhỏ trên tay, nhưng chưa kịp lật xem thì ánh mắt đã dừng lại trên những bức tranh, và anh đứng lặng.

Đồi chè, ánh nắng, mùa hái trà, đêm khuya thưởng trà, căn nhà đất tối mờ. Nhìn những bức tranh này, Thẩm Thư Lâm gần như ngỡ rằng bản thân đang ở trên con đường núi gập ghềnh của đồi chè vùng Vân Nam, chứ không phải tại một đất nước xa lạ cách nửa vòng trái đất.

Quá đỗi quen thuộc. Nét vẽ, phong cách, và cả cảm xúc đều thật quen thuộc.

Ngón tay Thẩm Thư Lâm khẽ động, định lật mở tập sách giới thiệu để xác thực phỏng đoán của mình. Nhưng rồi ngón tay anh khựng lại, không cần phải xem thêm nữa. Bởi vì ánh mắt anh vừa xuyên qua đám đông dày đặc đã chạm phải một ánh nhìn khác — một ánh nhìn đầy ắp kinh ngạc, phức tạp, vừa vui mừng lại vừa đau buồn.

Anh đứng yên tại chỗ, lặng lẽ đối diện với ánh nhìn ấy, chợt nhớ đến những lá trà Băng Đảo đẹp đẽ, đều tăm tắp. Đáp án dường như sắp hiện rõ.

Vai bị vỗ nhẹ một cái, Thẩm Thư Lâm từ từ thu hồi ánh mắt. Gabriel đang nhìn anh với vẻ khó hiểu, sau đó chỉ tay về phía phòng tiếp khách hình bán nguyệt phía trước, nói vài câu.

Nhân viên của Gabriel phiên dịch lại: “Tổng giám đốc Thẩm, 10 phút nữa sẽ có một buổi trình diễn nghệ thuật trà đạo do chủ phòng tranh và họa sĩ của triển lãm lần này cùng thực hiện. Chúng ta qua đó ngồi nhé.”

Cổ họng Thẩm Thư Lâm khô khốc, anh muốn hút một điếu thuốc. Nhưng đương nhiên anh không thể hút thuốc ở đây. Chưa kể từ sau Tết đến giờ, anh chưa hề hút thêm điếu nào. Cổ họng anh vừa rát vừa đau, chỉ khẽ gật đầu.

Tại phòng tiếp khách bên cạnh, Khương Nhất Nguyên cứ nhìn chằm chằm về phía lối vào, toàn thân cứng đờ. Giữa một đám người nước ngoài tóc vàng mắt xanh, anh ấy quá nổi bật, quá dễ nhận ra. Nhưng cậu biết đó không phải lý do chính.

Bởi dù ở trong nước, giữa một đám người mặc vest đen giống hệt nhau, cậu vẫn có thể nhận ra anh ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Martin tưởng đối phương đang căng thẳng, bèn an ủi: “Không sao đâu, lát nữa cậu cứ giới thiệu một vài kiến thức về trà đạo, tôi sẽ dịch song song giúp cậu. Đến đoạn biểu diễn pha trà, tôi sẽ phối hợp cùng cậu, không cần phải căng thẳng. Thả lỏng đi, đây đều là những khách hàng thân thiết của phòng tranh, là bạn của tôi cả.”

Khương Nhất Nguyên cứng ngắc thu hồi ánh mắt, khó khăn đáp: “Được.”

Mười phút sau, phòng tiếp khách nhỏ hình bán nguyệt đã chật kín khán giả. Ai nấy đều tò mò nhìn những bộ trà cụ đủ loại trên sân khấu.

Vì phòng khách có quá ít chỗ ngồi nên phiên dịch viên của Thẩm Thư Lâm và Gabriel đã ở lại bên ngoài, họ ngồi xuống hàng ghế thứ ba.

Martin nở một nụ cười nồng nhiệt, giới thiệu chủ đề của buổi triển lãm, sau đó nói: “Họa sĩ của chúng ta, cậu Khương, đồng thời cũng là một người nông dân trồng trà chân chất. Tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng cậu ấy đã rời xa thành thị để lên núi sâu, học cách làm trà từ một nghệ nhân trà lão làng. Tôi rất vinh dự khi mời được cậu ấy đến đây. Và bây giờ xin mời cậu Khương giới thiệu cho chúng ta một vài kiến thức về trà đạo.” Martin nói một lần bằng tiếng nước F, sau đó lại nói lại bằng tiếng Trung cho Khương Nhất Nguyên nghe, mỉm cười nói: “Đừng căng thẳng nhé.”

Đương nhiên Khương Nhất Nguyên không phải đang căng thẳng. Từ 10 phút trước, toàn bộ máu trong người cậu đã dồn lên não, khiến đầu óc giật thình thịch. Cho đến tận bây giờ, toàn thân cậu vẫn run rẩy không kiểm soát được.

Mọi người dưới sân khấu đều nhìn cậu, nhưng cậu chỉ nhìn về phía một ánh mắt duy nhất trong đám đông. Ánh mắt ấy bình thản mà ấm áp, tựa như vạt nắng chiều tà hôn lên ngọn cây vào mùa xuân.

Bỗng Khương Nhất Nguyên không còn run nữa, bắt đầu cất lời. “Trà Phổ Nhĩ là một loại đặc sản trà của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, được các trà hữu từ khắp nơi yêu mến. Ngày nay, khi công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã len lỏi vào cuộc sống của mọi người, những người nông dân trồng trà nơi núi sâu vẫn kiên trì làm trà bằng đôi bàn tay của mình.”

Cậu nói xong một đoạn thì dừng lại, Martin lập tức phiên dịch sang tiếng F, những người ngồi dưới bắt đầu gật đầu liên tục.

“Những lá trà tươi non trên cây sau khi được người nông dân hái từng búp một sẽ được rải ra phơi cho mát để làm bay hơi nước, rồi lại cho vào chảo nóng để sao khử vị ngái. Cuối cùng, người làm trà sẽ dùng đôi bàn tay của mình vò đi vò lại, nhào nặn hàng ngàn hàng vạn lần, vò cả ánh nắng lẫn sương khói, vò cả ánh trăng cùng tấm lòng của người làm trà vào trong để tạo nên một tách trà ngon.”

Khương Nhất Nguyên nhìn vào đôi mắt đen sâu lắng dưới sân khấu, khẽ nói: “Trà là chân tình.”

Thẩm Thư Lâm nhìn cậu, nhớ đến những vết xước nhỏ li ti phủ đầy trên đôi bàn tay ấy, nhớ đến từng búp trà đẹp đẽ trong bã trà, nhớ lại đêm đầu hạ năm ngoái khi cậu hỏi anh qua điện thoại rằng trà năm nay ngon hơn hay trà năm ngoái ngon hơn.

Anh đã đọc phần giới thiệu về họa sĩ trong tập sách, và anh đã hiểu ra tất cả.

Hiểu ra những gói trà được gửi đến thường xuyên trong hơn một năm qua, hiểu ra nét chữ của lão Ngô là mang theo lời chúc phúc của ai, hiểu ra nỗi niềm muốn nói lại thôi ẩn sau câu “Trà thơm đón người xưa”.

Martin dịch lại đoạn này cho những người ngồi dưới nghe. Đoạn văn này mang nặng tính duy tâm, lại có chút cảm động. Nhưng người dân nước F vốn tôn sùng sự lãng mạn và nồng nhiệt, ngược lại còn khơi dậy đồng cảm nơi những con người không nói cùng một thứ tiếng, tiếng vỗ tay vang lên khắp khán phòng.

Phòng tranh đang bật một bản nhạc nền nhẹ nhàng, du dương, là một bài hát tiếng Anh trữ tình mang theo nỗi buồn man mác.

“You still make me nervous when you walk in the room…”

Người vẫn làm em hồi hộp theo từng bước chân…

Khương Nhất Nguyên nói tiếp: “Trong trà đạo có một câu rất quan trọng, gọi là ‘Nhất kỳ nhất hội’¹.”

“Cuộc đời của một con người, bất kể là chuyện tốt hay chuyện xấu đều không thể quay lại lần thứ hai, chỉ có lần trải nghiệm duy nhất ngay tại thời điểm này mà thôi…”

Lần đầu tiên cậu uống trà Phổ Nhĩ là ở phòng trà nhà Thẩm Thư Lâm. Cậu đã chỉ vào dòng chữ trên tường và hỏi anh, câu này có nghĩa là gì.

Giữa cả khán phòng, Khương Nhất Nguyên vẫn luôn nhìn vào đôi mắt đen ấy, chậm rãi kể lại, như thể Thẩm Thư Lâm vào một buổi chiều năm đó đã dịu dàng kiên nhẫn giải thích cho cậu: “…Mỗi vị khách đến thưởng trà, trong đời có lẽ chỉ có một lần gặp gỡ này, vì vậy phải hết lòng trân trọng.”

Cậu nói: “Nhất kỳ nhất hội, một lần gặp gỡ là duyên, đáng quý biết bao.”

Giai điệu du dương: “…then butterflies they come alive when I’m next to you…”

…rồi những nhộn nhạo bỗng ngân vang khi em cạnh bên người…

Martin truyền tải lại đoạn này cho mọi người. Nghe đến đây, những người ngồi dưới đều chuyển ánh nhìn hào hứng vào bộ trà cụ và bánh trà trên sân khấu, mong chờ được nếm thử loại trà Phổ Nhĩ nổi tiếng này.

Khương Nhất Nguyên bóc bánh trà, dùng gắp trà lấy một nhúm nhỏ đặt lên cân điện tử. Cậu nhìn con số trên màn hình rồi lại thêm vào một chút trà nữa. Vừa vặn 8g.

Những người ngồi dưới đều ngồi thẳng lưng chăm chú theo dõi. Có người tò mò hỏi điều gì đó, Martin liền chuyển lời lại cho cậu: “Vị tiểu thư này hỏi tại sao phải cho đúng 8g trà, nhiều hơn một chút hay ít hơn một chút cũng không được sao? Có quy tắc gì đặc biệt không?”

Khương Nhất Nguyên mỉm cười: “Bởi vì người dạy tôi uống trà mắc chứng ám ảnh cưỡng chế, lần nào anh ấy cũng cho vào đúng 8g.”

Martin dịch lại câu nói đó, mọi người dưới sân khấu đều cười một cách thân thiện.

Đánh thức trà, làm ấm chén, tráng trà. Khương Nhất Nguyên xách ấm nước rót nhẹ vào chén khải. Tay cậu rất vững, dòng nước chậm rãi chảy vào lá trà. Cậu nói: “Khi pha trà phải đạt được đến cảnh giới ‘nước động trà bất động’, nếu không dòng nước va vào lá trà sẽ làm tăng tốc độ tách tanin, khiến trà trở nên đắng hơn.”

Nước tráng đầu tiên được đổ đi, Khương Nhất Nguyên rót nước pha thứ hai vào chén tống. Cậu cầm chén khải bằng một tay, động tác vô cùng thành thục và trôi chảy. Đây là thành quả của việc làm vỡ mấy chục chiếc chén khải và bị bỏng vô số lần mới luyện thành.

Khương Nhất Nguyên bưng chén trà thứ hai trong vắt, nhìn Thẩm Thư Lâm ngồi dưới sân khấu, khẽ nói: “Lượng nắng mưa mỗi năm khác nhau khiến cho hương vị và chất lượng của trà cũng khác nhau. Kể cả khi trà hoàn toàn giống nhau, nhưng dụng cụ pha trà, loại nước, kỹ thuật pha khác nhau thì hương vị trà cũng sẽ khác. Kể cả khi tất cả các điều kiện ngoại cảnh đều y hệt nhau, nhưng tâm trạng ngay tại thời điểm đó cũng sẽ khác thì vị trà uống được cũng sẽ khác. Mỗi một chén trà, đều là độc nhất vô nhị.”

Thẩm Thư Lâm từ xa nhìn cậu, ánh mắt hai người chưa từng rời nhau dù chỉ một khắc, dính chặt lấy nhau như keo. Những câu từ đẹp đẽ nhất của ngôn ngữ Trung Hoa, dưới sân khấu chỉ có một mình anh hiểu được.

Anh biết, từng câu chữ của đối phương đều là nói cho mình nghe.

Trong một thoáng ngẩn ngơ, anh nghĩ đến trà Băng Đảo đầu xuân tiết Thanh Minh của năm kia, nghĩ đến hai chiếc đèn lồng tre leo lét trên tay lái xe máy, nghĩ đến nụ hôn và sự phóng túng trên con đường núi gập ghềnh.

Khương Nhất Nguyên bưng chén trà, nói: “Chén trà đầu tiên này, tôi muốn dâng tặng một vị khách quý đang có mặt tại đây.”

Chẳng đợi Martin phiên dịch, cậu đã bưng trà bước xuống sân khấu. Từng bước chân chậm rãi mà kiên định, cuối cùng dừng lại trước mặt Thẩm Thư Lâm.

Một người ngồi, một người đứng, ánh mắt hai người đan xen, quấn quýt lấy nhau. Tình ý lẫn cảm xúc tràn ngập không gian, tất cả đều hiện rõ trong mắt, dù chẳng lời nào được thốt ra.

Khương Nhất Nguyên đưa trà qua, khẽ nói: “Tiên sinh, mời ngài dùng trà.”

Hàng trăm cặp mắt trong khán phòng đều đổ dồn về phía hai người, vừa tò mò vừa kinh ngạc. Martin giải thích rằng họa sĩ đang mời vị khách quý này uống trà. Ai nấy đều tỏ ra đã hiểu, cùng nhìn vào chén trà ấy như thể cũng muốn nếm thử hương vị của nó.

“If the whole world was watching I’d still dance with you. Drive highways and byways to be there with you…”

… Dẫu cả thế gian đang dõi theo, em vẫn sẽ khiêu vũ cùng người. Vượt qua những xa lộ, băng qua những nẻo đường, để đến bên người.

Trong tiếng nhạc trầm lắng du dương, Thẩm Thư Lâm nhìn người trước mặt. Anh nhận lấy chén trà sứ trắng, từ từ đưa lên môi. Thanh ngọt, đậm đà, hương mật hoa nồng nàn lan tỏa trong khoang miệng, tựa như đang nếm trọn cả sắc xuân của núi rừng bạt ngàn.

Khương Nhất Nguyên khẽ hỏi: “Có ngon không anh?”

Thẩm Thư Lâm nói câu đầu tiên kể từ khi bước vào phòng tranh, giọng có chút khàn: “Hơn cả vạn lần rượu ngon, tựa như uống được giọt mưa ngọt lành*.”

Cổ họng khô rát được chén trà xoa dịu, cuối cùng cũng cảm thấy dễ chịu hơn, tựa như vừa được uống một ngụm suối nguồn tinh khiết từ núi rừng.

Lại như thể uống được một vốc tuyết trên đỉnh Namcha Barwa.

Bình luận chương

    Có thể bạn cũng thích