Bỏ qua điều hướng

Mãn Đường Hoa Thải

Tâm đầu ý hợp

Chương 435

Tâm đầu ý hợp

· Đọc chương này khoảng 27 phút

1 lượt đọc chương · 498 lượt đọc truyện

Cổng thành Ung Khâu mở toang.

Tiết Bạch thúc ngựa qua cổng thành, rất nhanh đã thấy một vị quan viên mặc trường bào màu lục đang tiến đến đón. Chưa kịp chào hỏi, hắn đã nhận ra ngay đó là Trương Tuần.

Tiết Bạch chưa từng thấy ánh mắt nào kiên định đến gần như cố chấp như vậy. Trương Tuần rõ ràng là một người nội tâm cực kỳ có chủ kiến, không dễ bị tác động bởi ngoại cảnh.

Thế nhưng, y lại không hề cứng nhắc, trái lại, còn có phần phóng khoáng, không câu nệ tiểu tiết. Chẳng hạn, khi chào hỏi, y không xoa tay hành lễ một cách rập khuôn, mà chỉ khẽ vái, rồi dùng ánh mắt nhiệt thành, chân thật nhìn Tiết Bạch, không hề che giấu niềm vui sướng khi Ung Khâu được thu phục và viện quân đã tới.

Không như những quan viên khác thích phô trương, Trương Tuần vừa gặp Tiết Bạch – một vị thái thú, sau khi chào hỏi xong, việc đầu tiên y làm là giới thiệu các tướng lĩnh đứng sau mình.

Gọi là tướng lĩnh, nhưng thực ra đa số chỉ là các tuần bổ, binh đinh trong huyện thành. Người có quan chức cao nhất là Hoài Dương quân lang tướng Lôi Vạn Xuân, cũng là công thần trong việc tái chiếm Ung Khâu lần này.

Tiết Bạch kiên nhẫn lắng nghe, không hề tỏ vẻ coi thường dù họ chức tước nhỏ bé. Cuối cùng, hắn còn nhìn về phía hai người mặc khôi giáp, khí thế bất phàm đứng sau Trương Tuần, hỏi tên tuổi của họ.

“Họ vốn không phải tướng lĩnh. Đây là Nam Tễ Vân, khi ta khởi binh dẹp loạn, hắn là người đầu tiên hưởng ứng ta trước đền thờ Huyền Nguyên hoàng đế ở Chân Nguyên. Ta khen hắn dũng mãnh, muốn tiến cử hắn làm tướng.” Trương Tuần quay người giới thiệu một người vóc dáng cao lớn bên tay trái, rồi lại giơ tay giới thiệu người bên phải, nói: “Đây là Diêu Ngân...”

Tiết Bạch đánh giá họ một lượt, tán thán: “Đều là những tráng sĩ kiệt xuất, có tài làm đại tướng.”

“Tiểu nhân vốn là phu chèo thuyền trên vận hà, ngay cả tên cũng không có, chỉ gọi là Nam Bát. Huyện tôn đã đặt tên cho tiểu nhân.” Nam Tễ Vân khá thật thà, nói: “Không dám nhận danh hiệu đại tướng.”

Hắn vừa mở miệng đã lộ khẩu âm nhà quê rất nặng, nhưng lời lẽ lại khá gãy gọn, hẳn là một người xuất thân nghèo khó nhưng hiếu học.

“Đương nhiên nhận được.” Tiết Bạch vỗ vai Nam Tễ Vân, “Nam nhi không sợ xuất thân thấp hèn. Thời buổi loạn lạc chính là lúc để hiên ngang đứng ra, lập công dựng nghiệp.”

“Ta nhất định không phụ kỳ vọng của Thái thú!”

Lúc này, hơn một nửa Quang Vũ Quân đã tiến vào trong thành. Tiết Bạch liền dẫn Trương Tuần đến gặp mọi người.

“Đây là Vân Trung quân sứ Vương huynh Nan Đắc, tiên phong đại tướng của chúng ta, từng một thương hất ngã vương tử Thổ Phồn giữa vạn quân...”

Đang nói, Tiết Bạch chợt khựng lại giây lát, càng thêm trịnh trọng kéo Trương Tuần đến trước mặt một người khác.

“Bình Nguyên thái thú Nhan công, tên húy là Cảo Khanh. Nhạc phụ, đây là Chân Nguyên lệnh Trương Tuần.”

“Tốt quá rồi! Quân vụ bề bộn, đang sầu vì không có người giúp đỡ, Trương huyện lệnh đến thật đúng lúc.”

“Đang muốn thỉnh giáo Nhan công nhiều hơn.”

Năm đó, Nhan Cảo Khanh đã ngoài sáu mươi, Trương Tuần thì bốn mươi lăm tuổi. Quan vị tuy có tôn ti, nhưng hai người vừa gặp nhau đã vô cùng hợp ý, mới trò chuyện vài câu đã nảy sinh lòng tương tích (nể trọng, quý mến lẫn nhau) vì có cùng cách nhìn về tình hình Hà Nam.

Nhan Cảo Khanh lại càng mở lời trêu đùa, nói Tiết Bạch là con rể nuôi của y, nên không thể trở thành bạn vong niên của y được, nhưng Trương Tuần thì nhất định phải kết giao bằng hữu với y.

Tiết Bạch chứng kiến cảnh này, trong lòng không khỏi nghĩ tới câu thơ “Vì Trương Tuy Dương xỉ, vì Nhan Thường Sơn thiệt” (Vì răng của Trương Tuy Dương, vì lưỡi của Nhan Thường Sơn). Ý nói Trương Tuần giữ thành Tuy Dương, thành vỡ bị bắt, địch tướng phát hiện y chỉ còn lại bốn năm cái răng, hóa ra là do lòng lo cho nước quá thiết tha mà nghiến đến nát cả răng; còn Nhan Cảo Khanh sau khi bị bắt đã lớn tiếng mắng chửi An Lộc Sơn, bị cắt đứt lưỡi.

Trước mắt, tất cả những chuyện này đều chưa xảy ra, và Tiết Bạch cũng không muốn để chúng xảy ra.

~~

Tiết Bạch tạm trú tại Ung Khâu, coi như đã đạt được mục đích chiến lược đầu tiên hắn bàn bạc với Nhan Cảo Khanh trước khi xuôi nam – ngăn chặn phản quân chiếm đoạt lương thực vùng Giang Hoài.

Nếu đúng như Cao Tiên Chi đã nói Hàm Gia Thương vốn không có lương thực dự trữ, vậy thì đối với phản quân, đây sẽ là một chuyện cực kỳ bất lợi. Nhưng nếu Cao Tiên Chi chỉ kiếm cớ, vậy thì ít nhất trong vòng một năm phản quân cũng không có nỗi lo về lương thảo, mà Ung Khâu chắc chắn không thể giữ nổi một năm.

Mặt khác, Tiết Bạch vẫn chưa biết tình hình núi Thủ Dương ra sao, đã giữ được hay chưa? Hắn khẩn thiết cần có được tình báo, chung quy chỉ có hai cách: một là giương cao cờ hiệu, chờ đợi người của hắn đưa tin tức tới, nhưng làm vậy cũng ắt sẽ thu hút phản quân và trát bắt người của triều đình; hai là nhanh chóng tấn công tới núi Thủ Dương, tận mắt xem cục diện thế nào. Nhưng bất luận là cách nào, đều bị phản quân ở Huỳnh Dương, Khai Phong, Trần Lưu chặn mất đường đi, bắt buộc phải đánh bại chúng mới được.

Chưa đợi Tiết Bạch nghĩ ra cách đánh Trần Lưu, phản quân đã đi trước một bước tấn công Ung Khâu.

Quang Vũ Quân còn chưa kịp nghỉ ngơi chỉnh đốn hoàn chỉnh trong thành Ung Khâu, miệng vết thương trên người thương binh còn chưa kịp đóng vảy, hậu kỵ từ ngoài thành trở về, báo rằng phát hiện một toán lớn binh lực phản quân từ phía tây kéo đến, nhìn trận thế e là có hơn năm vạn binh mã.

Tiết Bạch triệu tập mọi người thương nghị, ai nấy đều cho rằng nên kiên bích thanh dã (củng cố thành trì, dọn sạch đồng ruộng, cố thủ chờ thời phản công), phòng thủ phản kích.

Trương Tuần lại có cách nhìn khác biệt, nói: “Kiên thủ cố nhiên là tốt, nhưng càng nên ‘thủ trung hữu công, dĩ công đại thủ’ (trong thủ có công, lấy công làm thủ). Phản quân tuy đông gấp năm lần quân ta, nhưng ắt là chư tướng hợp binh, không thống nhất chỉ huy, hiệu lệnh không đồng nhất. Nay nếu nhân lúc chúng đứng chân chưa vững, bất ngờ đánh úp, tất nhiên sẽ khiến chúng kinh hãi, thế giặc bị bẻ gãy, thì thành càng dễ giữ.”

Tiết Bạch đến nay cũng đã gặp qua một số danh tướng, mỗi người một vẻ: Vương Trung Tự dùng binh trù tính toàn cục, giỏi về ngự hạ; Vương Nan Đắc hãn dũng vô song, sắc bén không thể đỡ; Trương Tuần lại khác với họ, tâm chí tuy kiên định, nhưng chiến thuật lại vô cùng linh hoạt.

(Coi cấp dưới như cỗ xe hoặc con ngựa, người lãnh đạo nắm dây cương. "Ngự hạ" là kỹ năng biết lúc nào cần giật dây cương (nghiêm khắc trừng phạt), lúc nào cần nới lỏng (ban thưởng, vỗ về) để cỗ xe chạy đúng hướng mình muốn.)

Càng khó có được hơn là, Trương Tuần trước nay vẫn luôn giữ văn chức, chưa từng đánh trận, thế mà lại có kiến giải độc đáo đến nhường này.

“Phản quân đã là các bộ hợp binh, quân ta có thể chia quân xuất kích, khiến chúng nảy sinh tâm lý tự bảo vệ, không dám chi viện cho nhau, mới có thể toàn thân trở lui.”

Kế hoạch đã định, Tiết Bạch liền bắt đầu bố trí. Vương Nan Đắc, Khương Hợi, Lý Trạch Giao, Mã Tương Như, Điêu Vạn Tuế mỗi người dẫn một ngàn quân xuất thành đột kích. Trương Tuần tự mình xung phong, nguyện dẫn huyện binh Chân Nguyên xuất thành, để Vương Nan Đắc ở trong thành tùy thời tiếp ứng.

Đợi phản quân tới gần, quả nhiên là cờ xí chư tướng hỗn tạp, do phản tướng Lý Đình Vọng thống lĩnh. Binh mã bao gồm các bộ của Lệnh Hồ Triều, Lý Hoài Tiên, Dương Triều Tông, Tạ Nguyên Đồng, Dương Vạn Thạch... Ngày chúng đến nơi, vẫn còn đang hạ trại, Đường quân liền chia nhau xông ra, đánh thẳng vào trận địa.

Phản quân bất đắc dĩ, đành phải tạm lui vài dặm, sĩ khí vì thế mà giảm sút.

Chư tướng Đường quân nhao nhao trở về thành, báo cáo chiến quả. Trong đó, huyện binh do Trương Tuần suất lĩnh tuy chém được ít thủ cấp nhất, nhưng thế mà lại lùa về được hơn trăm đầu trâu dê.

“Tuần giết địch rất ít, để Thái thú chê cười rồi. Thiết nghĩ phản quân tất sẽ vây khốn Ung Khâu, cắt đứt giao thông, nên mới lùa chút trâu dê về, gọi là thêm chút lương thảo.”

Tiết Bạch liền nhận ra Trương Tuần dụng binh không chỉ chiến thuật linh hoạt, mà quan trọng hơn cả là y luôn khắc cốt ghi tâm điều đại cục thực sự cần. Đó không phải là việc cá nhân chém được bao nhiêu đầu giặc hay lập bao nhiêu chiến công, mà là phải tận dụng mọi cơ hội để đoạt lấy hậu cần tiếp tế, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến lâu dài.

Một hồi biến loạn, lại làm lộ ra thiên phú danh tướng, tài năng binh pháp cực kỳ bất phàm của vị huyện lệnh Chân Nguyên này...

“U ——”

Trời còn chưa sáng, Tiết Bạch lần nữa bị tiếng tù và công thành của địch quân đánh thức.

Hắn khoác khôi giáp bước lên đầu thành, nhìn về trận thế tựa như mây đen phía xa kia, ý thức được binh lực phản quân được bổ sung cực kỳ nhanh. Đám phản tặc chưa bao giờ kiêng kỵ việc cưỡng ép dân chúng tòng quân.

Từ đằng xa, có mấy kỵ binh chạy tới dưới chân thành. Lệnh Hồ Triều dưới sự che chở của tấm khiên, hướng lên đầu thành hô lớn.

“Giả Bí, Trương Tuần, chúng ta ngày trước làm quan ở huyện lân cận. Nay có một chuyện muốn nói rõ! Hãy xem tiễn thư!”

Dứt lời, có kỵ binh phản quân tiến lên, bắn một mũi tên sắc bén lên đầu thành. Thủ quân trên thành mặc kệ nguyên do, lập tức giương cung bắn trả về phía hắn, khiến hắn vội vàng chật vật tháo chạy.

“Đây là ý chỉ của Thánh nhân. Phủ quân dấy binh đều là do Tiết Bạch bách hại bức ép! Nay Thánh nhân ra lệnh Hà Bắc chiêu thảo sứ Hạ Lan Tiến Minh phát văn thư truy bắt Tiết Bạch. Các ngươi nghe lệnh dưới trướng hắn, há chẳng phải là kháng chỉ không tuân?!”

Trương Tuần bước tới nhặt mũi tên buộc thư kia lên, cũng chẳng thèm xem, đưa cho Nam Tễ Vân, bảo hắn bắn trả lại.

Y thì đi đến bên cạnh Tiết Bạch, nói: “Thái thú, giặc muốn dùng kế ly gián để làm loạn quân tâm ta. Có thể cho phép ta trấn áp khí thế của chúng không?”

“Làm thế nào?”

“Thê tử và nhi tử của Lệnh Hồ Triều vẫn đang bị giam trong thành. Có thể chém đầu trước ba quân.”

Tiết Bạch quay đầu, nhìn vào mắt Trương Tuần, phát hiện y vốn không phải là người bất nhân. Ánh mắt y lãnh tĩnh nhưng cũng có sự bi mẫn, chỉ là sự bi mẫn đó rất xa xăm, thương xót là thương xót chúng sinh trong thiên hạ và xã tắc của Đại Đường, chứ không động lòng vì vài người cỏn con.

“Nếu để mặc Lệnh Hồ Triều ăn nói bừa bãi, e là tổn hại quân tâm. Chi bằng tổn thương tâm can hắn trước.” Trương Tuần rất rõ ràng nên làm thế nào, lần nữa mở miệng.

Tiết Bạch cũng không biết đang nghĩ gì, lúc này mới hoàn hồn, gật gật đầu.

Rất nhanh, thê tử và nhi tử của Lệnh Hồ Triều liền bị giải lên đầu thành. Sau khi đứng vững, trên thành hô quát Lệnh Hồ Triều nhìn cho rõ. Sau đó, đao phủ giơ đao lên, dứt khoát chém xuống.

Đầu người lăn lông lốc rơi xuống khỏi thành, không một lời mà phơi bày sự tàn khốc của chiến tranh.

Lệnh Hồ Triều khóe mắt muốn nứt, giận dữ, quát lệnh binh sĩ cường công, thề phải san bằng thành Ung Khâu.

Phản quân liền dựng đầu thạch xa (xe bắn đá) bên ngoài thành Ung Khâu, hướng về đầu thành Ung Khâu mà bắn đá.

Nhưng Tiết Bạch đã sớm sai người chế tạo hai cỗ cự thạch pháo trong thành. Đợi phản quân vừa dựng xong đầu thạch xa, những tảng đá khổng lồ từ trong cửa thành bắn ra đã mãnh liệt nện xuống đầu chúng.

“Ầm!”

Cùng với tiếng vang thật lớn, đầu thạch xa của phản quân ầm ầm vỡ nát. Đồng thời vỡ vụn còn có cả niềm tin công thành của chúng...

Cứ thế, công thành hơn một tháng, đôi bên trải qua hơn hai trăm trận chiến lớn nhỏ. Ở giữa còn qua một cái Tết Trung Thu. Lý Đình Vọng thấy công mãi không hạ được, mà thủ quân Ung Khâu lại đã gây ra thương vong không nhỏ cho phản quân, bèn nảy sinh ý định rút lui.

Dẫu sao đối với phản quân, điểm mấu chốt nhất trước mắt nằm ở việc đánh hạ Đồng Quan. Tinh nhuệ đều tập kết ở Đồng Quan, không rảnh để đoái hoài phía đông.

~~

Trương Tuần lau chùi chiếc thiên lý kính trong tay đầy vẻ yêu thích, nhìn về phía đại doanh phản quân ngoài thành hồi lâu.

Cuối cùng, trong lòng y không khỏi cảm thán: “Quả là lợi khí.”

Nhờ có thiên lý kính, y mới quan sát được một vài điểm khác thường, bèn sải bước lên thành lầu, đến trước mặt Tiết Bạch, nói: “Thái thú, ta suy đoán phản quân sắp rút rồi.”

Tiết Bạch đang cùng Khương Hợi đối chiếu bản đồ thấp giọng thương nghị gì đó, nghe vậy quay đầu lại, ánh mắt chớp động, hỏi: “Trương huyện lệnh là muốn xuất thành truy kích sao?”

Hắn gần đây cũng học được không ít binh pháp từ Trương Tuần, trong việc vận dụng chiến thuật đã linh hoạt hơn nhiều.

“Chính phải.”

Trương Tuần nói: “Phản quân đã lui, quân ta nếu thừa thắng truy kích, tất có thu hoạch.”

Tiết Bạch hỏi: “Nếu là giả lui, thực chất đã bố trí phục binh thì sao?”

“Phản quân công thành không hạ, sĩ khí đê mê, đã không còn lòng dạ nào để đánh. Chúng ta há sợ phục binh?”

Trương Tuần rất có lòng tin vào phán đoán của mình. Kỳ lạ là, Tiết Bạch cũng luôn rất có lòng tin đối với Trương Tuần. Phàm là kế sách y đưa ra, Tiết Bạch luôn răm rắp làm theo mà điều binh khiển tướng.

Thế là, phản quân vừa lui, thành Ung Khâu lập tức mở toang cổng thành. Đường quân cuốn ra như cơn lốc, đuổi theo phản quân chém giết.

Sự thật lại chứng minh phán đoán của Trương Tuần là đúng. Phản quân căn bản vô tâm ứng chiến, nhưng cũng không ngờ Đường quân lại sống chết bám lấy mà đuổi giết không ngừng, truy kích thẳng hơn mười dặm. Phản quân cuối cùng đại bại.

Trên chiến trường máu chảy thành sông, Nam Tễ Vân đang từ xa nhìn chằm chằm vào soái kỳ của Lý Đình Vọng mà truy kích.

Hắn tuy xuất thân là phu thuyền, lại có kỹ thuật cưỡi ngựa và bắn tên không tệ. Đó là do mấy năm trước một vị tướng quân bị lưu đày dạy cho hắn. Đối phương chưa từng nói tên tuổi, chỉ nói là dưới trướng Lũng Hữu tiết độ sứ Hoàng Phủ công.

Lần này, Nam Tễ Vân nhìn thấy Vương Nan Đắc lấy thủ cấp địch tướng giữa vạn quân, có lòng muốn noi theo. Hôm nay liền cứ đuổi riết lấy Lý Đình Vọng không buông.

Bỗng nhiên, một lá cờ xiêu xiêu vẹo vẹo khác lọt vào tầm mắt của y, đó là Lệnh Hồ Triều.

“Lệnh Hồ Triều ở đằng kia!”

Nam Tễ Vân thúc ngựa đuổi theo, đồng thời trương cung cài tên, cố ý hạ thấp mũi tên, liên tiếp bắn ra mấy mũi tên như cá lội.

Thiên phú bắn tên của hắn rất cao, chỉ là cơ hội luyện tập ít nên vẫn còn chút lạ tay. May mà cuối cùng cũng bắn trúng ngựa của Lệnh Hồ Triều, hắn không kìm được nhoẻn miệng cười một tiếng. Không đợi binh sĩ phản quân phản ứng lại, hắn tiến lên, vươn nhẹ cánh tay vượn, một tay xách bổng Lệnh Hồ Triều lên.

Trận này, Đường quân chém đầu hơn hai ngàn cấp, giết đến thây phơi đầy đồng, bắt sống hơn bốn ngàn tù binh phản quân, thu được vô số quân nhu, lương thảo.

~~

“Lệnh Hồ Triều đâu?”

“Không giam chung với các tù binh khác, đang bị giam riêng tại huyện lao.”

“Dẫn đường.”

Trong thành đang kiểm kê chiến lợi phẩm, thỉnh thoảng lại vang lên vài tiếng hoan hô, nhưng Tiết Bạch đã bước vào lao phòng tối tăm.

Hắn có thể nghe thấy tiếng Lệnh Hồ Triều đang chửi rủa bên trong.

“Tiết Bạch, Trương Tuần, ta nguyền rủa các ngươi chết không được tử tế.”

“Ngươi phải sống thì mới làm được.” Tiết Bạch thuận miệng nói, bước vào trong lao, ném một túi rượu vào, nói: “Ta có chuyện muốn hỏi ngươi. Ngươi muốn chịu cực hình rồi mới khai, hay là vừa ăn ngon uống say, vừa trò chuyện với ta?”

Lệnh Hồ Triều nhìn hắn đầy oán hận, nghiến răng nghiến lợi nói: “Ta sẽ không nói.”

“Ngươi suy nghĩ cho kỹ.” Tiết Bạch nói: “Chúng ta đều biết, ngươi vốn là kẻ xương cốt mềm yếu, nếu không cũng sẽ chẳng đi theo phản nghịch. Đừng đợi đến lúc chịu hình mới bắt đầu hối hận.”

“Các ngươi đã giết thê nhi của ta!”

Tiết Bạch lắc đầu, xoay người bước ra ngoài, đồng thời vẫy tay ra hiệu cho Khương Hợi.

Hắn đã nhìn thấu những kẻ lòng đầy tham vọng quyền lực này. Chỉ cần có quyền lực, bọn họ chưa bao giờ thiếu thê tử nhi nữ. Bởi vậy, tất cả đều tự tư tự lợi, chắc chắn không chịu nổi khốc hình.

Lệnh Hồ Triều thấy hắn đi xa, bỗng nhiên hỏi: “Nếu ta trả lời câu hỏi của ngươi, ngươi cho ta cái gì?”

“Thả ngươi về trong đám phản quân, ngươi cứ việc tiếp tục làm quan to của ngươi.” Tiết Bạch dừng bước, bắt đầu trò chuyện từ chủ đề mà Lệnh Hồ Triều hứng thú nhất: “An Lộc Sơn không hứa ban cho ngươi một bộ tử bào sao?”

“Đợi Đại Yến lập quốc, ta tự nhiên là khai quốc công thần.”

“Đại Yến? Đã lập quốc rồi sao?”

“Mùng một tháng Giêng.”

Tiết Bạch nói: “An Lộc Sơn đợi được sao?”

“Mùng một tháng Giêng là sinh thần của hắn.” Lệnh Hồ Triều nói, “Minh Đường còn phải tu sửa đôi chút, để Ngũ vị thần được Tắc Thiên Đại Đế thờ phụng trên Minh Đường nguyện ý tiếp nhận Hiên thần, cùng phù hộ hắn trị thiên hạ.”

“Hửm?”

Lệnh Hồ Triều liền giải thích đôi chút.

Tầng thứ ba của Minh Đường là nơi Thiên tử tế tự, từng thờ phụng bài vị tiên tổ họ Võ và tiên đế họ Lý. Bài vị tiên tổ họ Võ đã sớm bị dỡ bỏ, nay tiên đế họ Lý tự nhiên cũng phải được mời đi nơi khác. Nhưng có thần vị của Ngũ phương Thiên đế không thể di dời bừa bãi, tức Thanh Đế, Xích Đế, Bạch Đế, Huyền Đế, Hoàng Đế. An Lộc Sơn lại có tín ngưỡng riêng, được người nhắc nhở, phải trùng tu Minh Đường, mới có thể đưa Hiên thần mà hắn tín phụng vào trong Minh Đường.

“Ai chủ trì việc này?”

“Một đạo sĩ.”

Kẻ xây Minh Đường thì tin Phật, kẻ sửa Minh Đường lại tin Bái Hỏa Giáo. Người tham gia vào việc này thế mà lại là một đạo sĩ, khó tránh khỏi có vẻ chẳng ra thể thống gì.

Tiết Bạch nghe vậy khẽ nhíu mày, hỏi: “Đạo sĩ nào?”

“Để ta nhớ xem.” Lệnh Hồ Triều có chút không nhớ rõ, hồi tưởng lại phần “chiếu thư” mà hắn nhận được, lẩm bẩm: “Minh Ứng Toàn Đức Khai Hóa Hộ Quốc Chân Quân, tên húy hình như là... Lý Hà... Lý Hà...”

“Lý Hà Chu?” (>người quen<)

“Phải.”

Lệnh Hồ Triều hoàn hồn, ánh mắt lộ vẻ nghi hoặc, lẩm bẩm: “Sao ngươi lại biết?”

“Là ta đang hỏi ngươi.” Tiết Bạch nói: “An Lộc Sơn tìm được Lý Hà Chu bằng cách nào?”

“Nghe nói là do danh túc Lạc Dương, hàng quan của Hà Nam phủ là Đạt Hề Tuần tiến cử. Nghe nói, Lý Hà Chu từng cung phụng trước ngự tiền, nhưng tính được khí số của hôn quân đã tận, liền đề thơ trên tường thành Trường An rồi bỏ đi, tìm kiếm chân long thiên tử.”

Những lời này ngược lại hầu như đều có căn cứ, ngay cả Lệnh Hồ Triều cũng vô cùng tin tưởng, còn kể ra mấy lời đồn đại nghe như thật.

“Đông Bình quận vương tin rằng chân long thiên tử mà Lý Hà Chu nói chính là hắn, bởi vậy vô cùng hoan hỉ, phong cho y làm Hộ Quốc Chân Quân.”

Tiết Bạch lại hỏi thêm vài câu, Lệnh Hồ Triều đối với chuyện ở Lạc Dương cũng chỉ biết đến thế.

“Nếu ta nhớ không lầm, Cao Thượng là con rể của ngươi phải không?” Hắn bèn đổi một chủ đề khác.

Ánh mắt Lệnh Hồ Triều hơi lảng tránh, lo lắng vì chuyện này mà bị Tiết Bạch giết hại, nhưng vẫn cố tỏ ra cứng cỏi, đáp: “Không sai, Cao Thượng năm xưa đã dụ dỗ nữ nhi của ta đi.”

“Hắn hiện giờ đang ở đâu?”

“Vốn đang ở Lạc Dương, mấy hôm trước biết ngươi đang ở Ung Khâu, đã chạy tới đây rồi.” Giọng điệu Lệnh Hồ Triều mang theo ý đe dọa, nói: “Hắn thống lĩnh chính là Phạm Dương tinh nhuệ kiêu kỵ, không giống với đám binh mã trưng tập tạm thời dưới trướng ta đâu.”

Sự đe dọa của Cao Thượng càng lớn, giá trị của hắn lại càng cao.

Tiết Bạch lại căn bản chẳng hề để ý, hỏi: “Núi Thủ Dương thì sao? Hắn đã đánh hạ chưa?”

“Không biết, lo liệu đại sự còn chẳng kịp, ai mà quan tâm đến chút biệt nghiệp cỏn con đó của ngươi?”

Tiết Bạch quan sát biểu cảm của Lệnh Hồ Triều, thấy hắn quả thực không biết việc này, bèn cười tùy ý, coi như thuận miệng hỏi một câu.

“Còn một việc nữa ngươi đã nghe nói chưa? Hàm Gia Thương kỳ thực trống rỗng.”

“Cái gì?” Lệnh Hồ Triều kinh ngạc một chút, phản ứng đầu tiên liền nói: “Không thể nào.”

“Sao lại không thể?”

“Ta làm Ung Khâu lệnh, hàng năm lương thực vùng Giang Hoài theo vận hà đi qua trước mắt ta, chuyển tới Lạc Dương. Trong đó một nửa lương thực dự trữ tập kết ở Hàm Gia Thương, sao có thể trống rỗng? Trừ phi...”

Lời còn lại Lệnh Hồ Triều không nói, mọi người đều hiểu: hoặc là sổ sách triều đình có vấn đề, hoặc là lương thực dự trữ trong kho đã bị vận chuyển đi rồi.

Không nói đâu xa, Tiết Bạch đã ở Ung Khâu một thời gian, từng xem qua sổ sách của quan nha và sổ sách riêng của Lệnh Hồ Triều, biết rõ chỉ riêng hắn hàng năm đều đã điều đi vài thuyền lương thực trên vận hà.

“Sẽ không thể nào trống rỗng được.” Lệnh Hồ Triều ngẫm nghĩ, vẫn lắc đầu nói: “Đông Bình quận vương chiếm cứ Lạc Dương, chưa từng nói Hàm Gia Thương không có lương.”

“An Lộc Sơn muốn ổn định quân tâm, đương nhiên là không thể nói rồi.” Tiết Bạch hỏi câu cuối cùng: “Chiến sự Đồng Quan thế nào rồi?”

Lệnh Hồ Triều vốn không muốn đáp, nhưng biết việc này chẳng cần thiết phải giấu giếm, rốt cuộc vẫn thành thật khai báo.

“Triều đình bổ nhiệm Thái tử làm Binh mã Đại nguyên soái, Ca Thư Hàn làm phó, thống lĩnh hai mươi vạn binh mã trấn thủ Đồng Quan. Đông Bình quận vương lệnh cho An Khánh Tự làm nguyên soái, thống lĩnh đại quân tấn công, bị Ca Thư Hàn đánh lui...”

~~

Ra khỏi huyện lao, Tiết Bạch vừa rảo bước, vừa trầm ngâm suy tính.

Việc Lý Hà Chu chạy đến bên cạnh An Lộc Sơn đã củng cố một loại quyết tâm nào đó của hắn.

“Thái thú, đã có đại thắng, đêm nay khao thưởng tướng sĩ một phen, được chăng?”

“Được.”

Tiết Bạch gật đầu, lại vẫy tay gọi Trương Tuần, Giả Bí lại, nói: “Ta còn một chuyện khác muốn thương thảo cùng hai vị.”

“Thái thú cứ nói đừng ngại.”

“Qua bên này đi.”

Tiết Bạch dẫn họ vào đại đường huyện nha, đi tới trước tấm bản đồ.

“Chúng ta sở dĩ có được đại thắng này, trừ việc phản quân công thành không hạ, sĩ khí đê mê ra, còn một điểm không thể không thừa nhận là, hiện tại kẻ đến tấn công Ung Khâu vốn không hoàn toàn là tinh binh của Phạm Dương, mà chỉ là đám phản quân được mở rộng từ một số ít biên quân. Vậy tinh nhuệ phản quân đang ở đâu? Ở đây.”

Vừa nói, hắn vừa chỉ vào Đồng Quan trên bản đồ.

Về binh pháp hắn tuy không bằng Trương Tuần, nhưng nhờ có kênh tin tức nhiều hơn, nên nắm bắt đại cục càng thêm chuẩn xác.

“Ta đang nghĩ, lần này Lý Đình Vọng vì tấn công Ung Khâu, đã điều động binh lực các nơi quanh đây, bao gồm cả Khai Phong, Huỳnh Dương. Nói cách khác, dải đất Lạc Dương tương đối trống rỗng, có lẽ ta có thể xuất binh về phía Lạc Dương để dò xét hư thực.”

“Cái gì?”

Trương Tuần vô cùng kinh ngạc, nói: “Không ổn. Thái thú nói phản quân trống rỗng, nhưng binh lực quân ta lại càng ít hơn. Mà Ung Khâu là yếu địa của vận hà, giữ vững nơi này, Vương sư bình tặc sẽ không còn nỗi lo về sau, hà tất phải mạo hiểm?”

Lý do Tiết Bạch phải mạo hiểm đã nói sớm với Vương Nan Đắc rồi, không cần phải nói lại lần nữa với Trương Tuần.

Họ là trung thần của Đại Đường, chỉ cần kiên thủ đến khi phản loạn được bình định thì sẽ là công thần. Còn hắn thì chỉ có thể bị thanh trừng. Hắn bắt buộc phải sớm có được thanh vọng và quyền lực lớn hơn. Ngoài ra, Lý Tông rốt cuộc cũng được phong làm Binh mã Đại nguyên soái, Tiết Bạch hy vọng có thể sớm liên lạc được với Ca Thư Hàn.

“Việc này ta có suy tính riêng, không cần bàn nhiều.” Tiết Bạch nói: “Ta cần các vị phối hợp, được không?”

Đây là một lần thăm dò nhỏ của hắn đối với hai người, muốn xem thử đã kề vai chiến đấu suốt thời gian qua, Trương Tuần, Giả Bí có nguyện ý giúp hắn hay không.

“Thái thú cứ việc phân phó.”

“Tốt.” Tiết Bạch nói: “Đã đánh bại được Lý Đình Vọng, chúng ta có thể truyền hịch các quận Hà Nam, Hoài Nam, cùng chống phản quân. Tạo ra thanh thế. Đồng thời, ta sẽ giương cao cờ hiệu, giả vờ tấn công Trần Lưu, Khai Phong...”

Vừa nói, hắn vừa nhìn vào bản đồ.

Đường đi đến huyện Yển Sư đại khái có hai con đường: một là dọc theo Hoàng Hà đi Trần Lưu, Khai Phong, Huỳnh Dương, Củng Huyện – đây là đại đạo bằng phẳng; hai là vòng qua núi Phục Hy, Tung Sơn, đi qua Đăng Phong, đến Y Thủy, rồi lại đi ngược lên phía bắc. Con đường này gập ghềnh khó đi, nhưng may là không nằm trong phạm vi thế lực của phản quân.

Hắn cần Trương Tuần và những người khác phò tá Nhan Cảo Khanh tiếp tục giương cờ hiệu của hắn kiên thủ Ung Khâu, giả vờ tấn công Trần Lưu. Còn hắn sẽ cùng Vương Nan Đắc dẫn một đội tinh kỵ, xuyên qua đường mòn chạy thẳng đến Yển Sư.

Đến lúc đó, chỉ cần núi Thủ Dương vẫn còn kiên thủ, thì Tiết Bạch có thể dẫn quân đông tiến, cùng Nhan Cảo Khanh, Trương Tuần giáp công các quận Hà Nam; hoặc là tập kích Lạc Dương, liên lạc với Ca Thư Hàn, giáp công Thiểm quận.

~~

“Đi thôi, đi khánh công.”

Kế hoạch này đã bàn xong, mấy người bước ra khỏi huyện nha, đã có thể nghe thấy tiếng cười nói vui vẻ của tướng sĩ vọng lại từ đằng xa.

“A lang.”

Phía sau bỗng vang lên một tiếng gọi kiều nhu. Tiết Bạch ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy một nữ tử đầu cài trâm gai, mặc áo vải thô, tay xách một chiếc giỏ trúc đứng ở đó. Sau đó, Trương Tuần liền xoay người bước tới, giọng điệu khá ôn nhu đối đáp với nàng vài câu.

“Sao ngươi lại tới đây?”

“Thiếp thân nghe nói hôm nay đại thắng, mới dám đến làm phiền A lang, mang theo chút rượu và thức ăn...”

Họ đi ra hơi xa, những lời đối thoại sau đó liền không nghe thấy nữa.

“Đó là thị thiếp của Trương huyện lệnh, tên gọi Oánh Nương.” Giả Bí nói, “Từ khi giữ thành gần tháng nay, nàng thường xuyên may vá trong quân, Thái thú có lẽ cũng đã gặp qua vài lần.”

“Nhớ ra rồi, thường hay đi theo tỷ tỷ của Trương huyện lệnh là Lục Gia Cô, lại không biết là thiếp thất của Trương huyện lệnh.”

“Thê tử y mất sớm, hai năm trước nạp người thị thiếp này, quả thực là hết mực yêu chiều.”

“Ân.”

Tiết Bạch ngoảnh đầu lại nhìn bóng dáng nữ tử kia dưới ánh trăng, thầm nghĩ đợi lần sau bản thân gặp lại Trương Tuần, nhất định sẽ còn được gặp lại nàng.

(Hết chương)

_____________

*Theo Cựu Đường Thư - Trương Tuần Truyện:

Vào giai đoạn cuối của cuộc vây hãm thành Tuy Dương, lương thảo cạn kiệt, binh lính phải ăn rễ cây, vỏ cây, thậm chí ăn th* lẫn nhau. Trương Tuần đã dẫn người thiếp yêu của mình ra trước ba quân, nói: "Chư quân vì nước mà giữ thành, một lòng muốn chết, đến nay lương thực đã hết. Tuần ta không thể cắt da lóc th* của mình để cho chúng sĩ ăn, lẽ nào lại tiếc một người phụ nhân mà ngồi nhìn quân sĩ chịu đói?" Dứt lời, ông giết chết người thiếp ấy, nấu th* để nuôi quân sĩ. Tướng sĩ đều khóc, không nỡ ăn, nhưng Trương Tuần ép họ phải ăn.

Bình luận chương

    Có thể bạn cũng thích