Bỏ qua điều hướng

Tiểu Thiếu Gia Hôm Nay Cũng Bị Bắt ĐI Tra Án

Cô Nhi Viện Hạnh Phúc

Chương 71

Cô Nhi Viện Hạnh Phúc

· Đọc chương này khoảng 15 phút

2 lượt đọc chương · 174 lượt đọc truyện

Cô nhi viện Hạnh Phúc nằm tận sâu trong vùng núi hoang vu của Cảng Thành. Từ đồn cảnh sát đến đó phải mất hơn một tiếng rưỡi lái xe.

Trên đường đi, Lục Thính An ngồi dựa lưng lim dim, ngủ say đến mức xe chạy qua mấy cái ổ gà còn chẳng hề tỉnh.

Cố Ứng Châu định mở lời hỏi chuyện vụ án nhưng cứ nhìn thấy đôi mắt nhắm tịt, gương mặt yên tĩnh của cậu là lại thôi. Cuối cùng, anh quyết định im tiếng, không nỡ đánh thức.

Một tiếng rưỡi sau, xe đã dừng trước cổng cô nhi viện.

Cố Ứng Châu xuống xe trước, đi xung quanh quan sát tình hình. Chắc chắn không có gì bất thường, anh mới gõ nhẹ vào kính cửa sổ bên lái. Lục Thính An tỉnh dậy, mắt vẫn còn lờ mờ.

“Đã đến nơi rồi.” Cậu cởi dây an toàn, bước xuống xe. Đứng trước mặt Cố Ứng Châu, cậu không nhịn được ngáp một cái thật dài.

“Lúc đến sao không gọi tôi dậy?”

Cố Ứng Châu đáp:

“Trông cậu mệt quá.”

Lục Thính An cười cợt:

“Tối qua toàn mơ thấy ác mộng. Đến đây rồi, thôi vào đi thôi.”

Lúc trước bị Cố Ứng Châu che khuất tầm nhìn, cậu chỉ thấy xe đỗ trên con đường bùn đất sình lầy, xung quanh toàn cây cối khẳng khiu. Đến khi vòng ra phía trước, Lục Thính An mới nhận ra rằng cái biệt danh “cô nhi viện cũ nát” của phóng viên quả thật không quá lời.

Trước mắt họ nào có bóng dáng của một ngôi nhà tử tế? Chỉ là một căn nhà hoang sắp đổ.

Cánh cổng sắt đã bị rỉ sét, loang lổ những vết gỉ. Khoá mắt cổng bị xích sắt quấn chặt lấy. Sân trước mọc hai cây vạn tuế già cỗi, rễ trồi lên khỏi mặt đất nứt nẻ. Đất toàn sỏi đá lởm chởm, mọc đầy cỏ dại.

Bước vào bên trong, cảnh tượng càng thảm hại hơn: tường nứt toác, cửa sổ vỡ kính được che tạm bằng vài tấm ván mục méo mó, dây thường xuân mọc um tùm bám đầy tường.

Không hề có dấu hiệu của sự sống. Không tiếng cười nói của trẻ con, dù nhỏ nhất.

Lục Thính An lùi lại vài bước, nhíu mày:

“Trông chẳng giống chỗ người ta sinh sống chút nào. Chẳng lẽ toàn bộ trẻ con đã dọn đi hết rồi?”

Cậu nhìn về phía cánh cổng, thấy tấm biển hiệu bị gió thổi nghiêng, chữ hầu hết đã bong tróc, chỉ còn lơ mơ nhận ra mấy chữ “Tân Điền Dưa…” gì đó.

Thu lại ánh mắt nghi hoặc, Lục Thính An thử hô lớn:

“Có ai ở đây không?!”

Gọi xong, cậu căng tai lắng nghe nhưng chẳng nghe thấy tiếng động gì. Đến chim chóc trong rừng cũng chẳng buồn bay nhảy. Một sự im lặng đáng sợ khiến người ta nổi da gà.

“Có ai không?” Cậu gọi lần nữa, giọng to hơn.

Vẫn không thấy ai đáp.

Đúng lúc cậu định gọi lần ba, Cố Ứng Châu nhẹ nhàng kéo cậu lại:

“Dù cậu có hét đến vỡ cổ họng cũng chẳng có ai mở cửa đâu.”

Lục Thính An quay sang nhìn anh:

“Vậy nếu không ai ở đây, hai chúng ta đứng trước cổng làm gì? Làm tượng canh cho cửa à?”

Cố Ứng Châu không trả lời, tiến lên nắm lấy sợi xích khóa cổng. Sợi xích trông có vẻ cũ kỹ, nhưng chỉ cần anh luồn tay vào đúng mấy chỗ “cạch” là cả đoạn xích rơi xuống đất “bịch” một tiếng.

Lục Thính An: “…”

Cậu nhíu mày, khó chịu:

“Anh biết cửa không khóa từ đầu rồi đúng không? Biết sao không nói luôn?”

Cố Ứng Châu quay sang cậu, ánh mắt thoáng vẻ chế giễu, khẽ cười:

“Cậu ngủ say suốt chặng đường, gọi mấy tiếng chẳng phải tỉnh táo hơn ư?”

Lục Thính An: “……”

Không biết có phải do ảo giác không, cậu cảm thấy lời của Cố Ứng Châu thoáng chút… oán khí.

Lúc cậu vừa định bước vào, Cố Ứng Châu bỗng nói thêm:

“Sau vườn có phơi vài bộ quần áo và khăn tắm, nước vẫn còn ướt.”

Vòng qua gốc vạn tuế già, hai người đi dọc theo mái hiên. Cánh cửa bên trong không khóa, đẩy nhẹ là phát ra tiếng “kẽo kẹt” khô khốc rồi từ từ mở ra.

Những ô cửa sổ bị che kín, ánh sáng trong phòng yếu ớt. Phải mất vài giây để mắt điều tiết, Lục Thính An mới nhìn rõ: đây là một hành lang dài, trên tường dán đầy những bức tranh.

Cậu lại gần xem kỹ.

“Toàn là tranh vẽ của tụi nhỏ, còn có vài bức ảnh chụp chung… trông như từ rất lâu rồi.”

Bức tranh và tấm ảnh đều đã ngả vàng, sờ vào cảm thấy giòn tan.

Dễ dàng nhận thấy nơi này từng ấm cúng biết bao. Tranh vẽ là cảnh sơn thủy, mặt trời, tiếng cười đùa của trẻ con thể hiện sự hồn nhiên lạc quan. Dù sinh trưởng trong cô nhi viện, những đứa trẻ ở đây dường như chưa từng để bóng tối làm méo mó tâm hồn.

“Rào rạt… Đông—”

Bỗng có vật gì đó rơi xuống phía trước, theo sau là tiếng bước chân hốt hoảng chạy xa.

Sắc mặt Cố Ứng Châu trầm xuống.

“Ai đó!”

Anh lập tức đuổi theo, thân hình cao ráo, bước chân dài chỉ mấy bước đã đến khúc ngoặt, phát hiện một cậu bé chỉ cao đến eo mình.

Cánh tay dài vung ra, anh dễ dàng túm lấy cậu, nhấc bổng người cậu lên lơ lửng trước mặt.

“Trẻ con? Cô nhi viện này vẫn còn trẻ con?”

Cậu bé chừng mười một, mười hai tuổi, gầy gò, mặc chiếc áo bông cũ rách không biết lấy từ đâu. Bị người lạ túm lên, cậu hoảng sợ giãy giụa, theo bản năng cắn mạnh vào tay Cố Ứng Châu.

Nhưng vì anh mặc áo dày, cú cắn chẳng khác gì cắn vào không khí.

Cậu bé sợ đến khóc, mặt méo xệch, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng.

“Viện trưởng! Viện trưởng, chạy mau!!”

Lục Thính An vừa kịp đến, thấy cảnh Cố Ứng Châu đang vật lộn che miệng cậu bé, mặt đầy vẻ ghét bỏ. Cậu bé vừa khóc vừa vùng vẫy, mũi miệng lem nhem, nhìn đến ngứa mắt.

Lục Thính An: “…”

Cậu bất đắc dĩ tiến tới, vỗ vai Cố Ứng Châu:

“Anh túm nó làm gì? Thả ra đi, để nó dẫn mình gặp viện trưởng.”

Cậu bé nhút nhát, ban đầu nhất quyết không chịu chỉ đường. Đến khi Lục Thính An lấy giấy chứng nhận ra cho xem, vừa dỗ vừa hứa, nó mới nức nở chỉ đường bằng giọng mũi:

“Đi theo em… Viện trưởng ở căn phòng cuối cùng.”

Cả ba người đi ngoằn ngoèo qua mấy hành lang, rẽ trái quẹo phải hồi lâu mới đến căn phòng sáng sủa nhất nơi này.

Phòng hướng nam, giữa phòng là chiếc giường. Bên cửa sổ có cái bàn, xung quanh chất đầy hộp giấy, còn có vài bó hoa giấy xếp gọn. Trên mặt đất lác đác vài tấm giấy thủ công.

Cậu bé khẽ nói:

“Viện trưởng đang làm việc. Bà ấy tuổi cao, tai không nghe rõ, hai người đừng làm bà sợ.”

Lục Thính An gật đầu. Hóa ra vừa rồi cậu gọi to mà bên trong không ai đáp là vì bà không nghe rõ.

Cậu chỉ vào đống đồ trên mặt đất, hỏi:

“Mấy thứ này đều là công việc của bà ấy?”

Cậu bé gật đầu:

“Hộp giấy dán xong thì mang lên trấn bán cho mấy người bán hàng rong, họ dùng để gói đồ. Hoa giấy thì nhiều chỗ dùng lắm, như người giấy, diều, với mấy món đồ chơi nhỏ nữa. Viện trưởng tay rất khéo, trên trấn có nhiều người đặt làm, bà còn giúp người ta may vá nữa đó.”

Nói đến viện trưởng, cậu bé đầy vẻ tự hào. Nhưng khi nói đến đây, lại lộ ra vẻ khổ sở:

“Cháu còn nhỏ, chẳng giúp được gì. Nếu không thì viện trưởng chẳng phải vất vả đến vậy.”

Lục Thính An không nói gì, chỉ nhẹ nhàng xoa đầu cậu. Cậu bé đỏ mặt, lúng túng tránh ra rồi lon ton chạy về phía viện trưởng, lớn tiếng gọi:

“Viện trưởng! Có hai người đến tìm bà hỏi chuyện!”

Viện trưởng “ừ” hai tiếng, buông tay khỏi công việc, xoay người lại.

Lúc này Lục Thính An và Cố Ứng Châu mới nhìn rõ dung mạo bà. Một người phụ nữ lớn tuổi, hiền hậu và phúc hậu. Bà chắc đã hơn tám mươi, khuôn mặt đầy nếp nhăn nhưng ánh mắt vẫn dịu dàng, khí chất từ tốn khiến người ta vừa nhìn đã thấy thân thiết. Có thể tưởng tượng khi còn trẻ, bà là một mỹ nhân hiền hòa như thế nào.

“Chào hai cậu.” Viện trưởng gập lưng đứng dậy chào. Bà chỉ cao hơn cậu bé kia một chút, “Hai cậu đến có chuyện gì? Cứ hỏi, tôi biết gì sẽ nói hết.”

Cố Ứng Châu không để bà đứng lâu, bảo cậu bé đỡ bà ngồi xuống bên giường. Sau đó, anh nâng giọng hỏi:

“Cô nhi viện bây giờ chỉ còn hai người là bà với thằng bé này thôi sao? Những đứa trẻ khác đâu rồi?”

Viện trưởng chỉ vào hai chiếc ghế băng thấp đặt sát tường, ra hiệu cho họ ngồi. Lục Thính An thấy ghế quá nhỏ, ngồi xuống chân phải co lại, liền kéo cậu bé lại ngồi cạnh mình, không cho bé phải đứng.

Viện trưởng chậm rãi nói:

“Chỗ này nằm sâu trong núi, mấy năm trước không còn ai hỗ trợ viện nữa. Tôi với mấy cô phụ trách nuôi không nổi nhiều trẻ như trước, đành phải giải tán. Đã gần ba năm rồi.”

“Còn bọn nhỏ thì sao?” Lục Thính An hỏi.

Bà mỉm cười, đầy từ ái:

“Chúng rất ngoan. Hồi trước còn luyến tiếc tôi và viện, không chịu rời đi, không chịu nhận gia đình mới. Sau này biết viện sắp đóng cửa, chúng đều tự nguyện rời đi. Thật ra sớm nên như vậy, có gia đình mới sống tốt hơn, mới được đi học, có tương lai.”

Nói đến chuyện cũ, khóe mắt cậu bé đỏ hoe. Cậu rúc vào lòng viện trưởng, ôm chặt bà. Bàn tay già nua của bà run run xoa đầu cậu:

“An An là đứa duy nhất kiên quyết không chịu đi. Nó cứ sợ tôi ở lại một mình sẽ không sống nổi. Nhưng mấy năm qua, chính nó lại là người chăm sóc tôi. Mới mười tuổi thôi mà đã biết nấu cơm, giặt đồ, quét dọn khắp viện.”

Lục Thính An nhìn hai bà cháu ôm nhau, lòng thấy xao xuyến.

“Mười tuổi rồi là lớn rồi đấy. Đã đi học chưa?”

Viện trưởng khẽ lắc đầu:

“Chưa. Tôi đang cố dành dụm học phí, chắc đến hè sẽ cho nó nhập học.”

An An nghe vậy bĩu môi lẩm bẩm:

“Con không muốn đi học, lãng phí tiền làm gì…”

Cậu bé nói đi nói lại câu này, viện trưởng chỉ mỉm cười không đáp. Bà nhìn sang hai người, hỏi:

“Hai cậu đến đây, chắc là còn chuyện quan trọng hơn đúng không?”

Cố Ứng Châu không trả lời ngay, lấy trong túi áo ra hai bức ảnh. Anh chỉ vào cô bé trong ảnh, hỏi:

“Cô bé này từng ở cô nhi viện này đúng không? Rời đi từ khi nào?”

Viện trưởng cầm lấy, nhìn kỹ. Ánh mắt chợt trùng xuống.

“Là Tiểu Quả… Con bé sao rồi?”

Thấy hai người đều mặc cảnh phục, sắc mặt bà lập tức biến đổi, lo lắng hỏi:

“Chẳng lẽ xảy ra chuyện gì rồi chứ?”

“Vẫn chưa thể khẳng định.” Lục Thính An nói, “Chúng tôi đến để xác nhận. Cô bé tên Tiểu Quả phải không? Năm năm trước rời viện cùng với Tống Nghi Chi? Từ đó đến giờ có quay lại lần nào không?”

Viện trưởng lập tức lo lắng. Khi nghe đến cái tên “Tống Nghi Chi”, thần sắc bà thoáng hoảng hốt, như thể ký ức bị kéo ngược về mấy năm trước.

“Đúng rồi,” bà chậm rãi gật đầu, “Tống tiểu thư là người rất tốt. Năm đó đã giúp cô nhi viện rất nhiều. Năm năm trước, Tiểu Quả bắt đầu ra dáng thiếu nữ, lại thích nhảy múa. Tống tiểu thư không nói hai lời, trực tiếp đưa con bé vào thành phố, sắp xếp cho nó học lớp vũ đạo tốt nhất. Đáng tiếc… Tống tiểu thư là người tốt như vậy, không ngờ lại… ra đi sớm.”

Lục Thính An và Cố Ứng Châu liếc nhìn nhau, ánh mắt thoáng hiện sự hiểu ý.

Viện trưởng tiếp tục:

“Tiểu Quả chưa từng quay lại, nhưng trước đây vẫn gửi vài món đồ về. Ba tháng trước còn gửi về 500 đồng.”

Cố Ứng Châu lập tức hỏi:

“Gửi thứ gì về?”

“Huy chương!” An An chen vào, giọng đầy phấn khích. “Chị Tiểu Quả giỏi lắm! Tham gia thi nhảy giành được rất nhiều giải nhất! Mỗi lần đều gửi huy chương về đây. Chúng em ai cũng coi chị ấy là tấm gương. Chỉ là chị ấy bận quá không về được thôi. Chị Tiểu Quả không thể nào làm chuyện xấu đâu!”

Lục Thính An mỉm cười, giọng ôn hòa:

“Bọn tôi có thể xem mấy cái huy chương đó không?”

An An gật đầu như gà mổ thóc:

“Em đi lấy!”

Cậu bé chạy vào phòng viện trưởng, lục lọi ngăn tủ cạnh đầu giường. Một lát sau, cậu ôm ra mấy chiếc hộp nhung đỏ nhỏ xíu, trịnh trọng đưa cho Lục Thính An.

“Là mấy cái này. Cẩn thận chút nha! Viện trưởng mỗi lần nhận đều chỉ dám nhìn, không dám sờ vào.”

Cố Ứng Châu lập tức bắt được điểm mấu chốt:

“Em chưa từng chạm vào mấy cái huy chương này?”

An An ngơ ngác:

“Dạ chưa.”

Cố Ứng Châu không nhìn cậu bé nữa, quay sang viện trưởng:

“Chúng tôi muốn mang mấy chiếc huy chương về kiểm tra.”

Cả hai đều biết rất rõ Tiểu Quả gần như chắc chắn là nạn nhân vụ cháy năm năm trước. Cô ấy không thể đi thi và giành huy chương sau khi chết. Vậy nên, việc có người giả mạo gửi những vật này về để che giấu sự thật là hoàn toàn có thể.

Quan trọng hơn, nếu viện trưởng và An An chưa từng chạm vào huy chương… thì khả năng còn giữ được dấu vân tay của hung thủ là cực cao. Đó sẽ là chứng cứ then chốt để nhận diện hắn.

Viện trưởng do dự hai giây, cuối cùng gật đầu:

“Cứ mang đi. Tôi biết việc của cảnh sát, người thường như chúng tôi không nên hỏi nhiều. Nhưng… nếu sau này tra ra được sự thật, mong hai cậu có thể cho tôi biết một chút.”

Lục Thính An trịnh trọng gật đầu:

“Được.”

Như chợt nhớ ra điều gì, viện trưởng bổ sung thêm manh mối:

“Chuyện của Tiểu Quả, tôi không rõ hết. Có lẽ… các cậu nên tìm Vong Trần.”

“Vong Trần?”

Cái tên này nghe như của người tu hành.

An An lập tức chỉ vào cậu bé khác trong ảnh, một thanh niên gầy gò, tay đặt lên vai Tiểu Quả đầy thân thiết:

“Là người này! Anh Vong Trần. Anh ấy với chị Tiểu Quả thân nhau lắm, còn hơn cả ruột thịt. Sau khi chị Tiểu Quả đi học nhảy, anh ấy cũng vào thành phố làm ăn nhỏ. Mấy năm nay, may mà còn có anh ấy gửi tiền về giúp viện trưởng và em.”

Cậu thanh niên trong ảnh cao nhất nhóm, nhưng nhắm mắt trong cả hai bức ảnh.

Hỏi ra mới biết Vong Trần bẩm sinh đã mù, bị bố mẹ bỏ rơi, lúc nhỏ được người lang thang cưu mang. Đến khi người đó qua đời, cậu mới tìm đến cô nhi viện. May mắn là nơi này không hắt hủi hay coi thường cậu. Trái lại, cậu được yêu thương và biết ơn. Đến bây giờ vẫn một mình cậu âm thầm hỗ trợ viện.

Khi rời cục, hai người chỉ mang theo ít tiền mặt. Lục Thính An lấy toàn bộ hơn hai ngàn trong người giao cho viện trưởng. Không nhiều, nhưng đủ để An An đi học, và cải thiện bữa ăn vài tháng.

Rời khỏi cô nhi viện, Cố Ứng Châu cầm mẩu giấy có địa chỉ của Vong Trần, trầm giọng hỏi:

“Có thể là cậu ta không?”

Biết Tiểu Quả đã chết… Nếu là người yêu, rất có thể g.iết người để trả thù.

Lục Thính An lắc đầu:

“Không giống. Người mù hạn chế quá lớn. Cậu ta đến gương mặt Tống Nghi Chi còn chưa từng thấy thì giết kiểu gì?”

Bóng đêm qua cũng cho cậu một hướng khác loại trừ Vong Trần.

Giết Tống Nghi Chi… khả năng lớn là vì tình cảm, mâu thuẫn, và ích kỷ.

Vong Trần yêu Tiểu Quả, chắc chắn chẳng liên quan gì đến Tống Nghi Chi. Mà Tống Nghi Chi chắc cũng chưa từng coi cậu ta là đối thủ.

Nhưng trực giác của Lục Thính An lại mách bảo Vong Trần chắc chắn giữ vai trò then chốt trong vụ án này.

“Đi gặp thử xem.” Lục Thính An nói, ánh mắt dần sáng lên.

“Có khi cậu ta biết điều gì đó.”

Bình luận chương

    Có thể bạn cũng thích