Chương 2: Thánh Chỉ Ban Hôn

Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên

Chương 2: Thánh Chỉ Ban Hôn

Bạch Tuyết Ca - Vụ Viên thuộc thể loại Linh Dị, chương 2 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.

Châu Đàn, tự là Tiêu Bạch.
Bộ Dận Sử do người xưa biên soạn, sau khi khảo cứu mọi ghi chép đương thời, đã gọi Châu Đàn là đệ nhất nịnh thần* của triều Bắc Dận. Thế nhưng, không hiểu vì sao, tư liệu về chàng lại vô cùng khan hiếm, ngay cả tập thơ văn cũng chỉ còn lưu truyền một cuốn duy nhất. Chính vì thế, dù chàng đứng đầu danh sách trong Dận Sử · Nịnh Thần Truyện, nhưng phần ghi chép về chàng lại là ngắn nhất, vỏn vẹn chỉ một trang.
*Nịnh thần dùng để chỉ những người bầy tôi hoặc cấp dưới khéo léo nịnh hót, tâng bốc người đứng đầu, đặc biệt là vua hoặc người có quyền lực. Từ này thường mang nghĩa tiêu cực, phản ánh hành vi xu nịnh, không trung thực nhằm lấy lòng người trên để đạt được lợi ích cá nhân.
Khúc Du chỉ tìm được vài dòng giới thiệu sơ lược về chàng.
Châu Đàn là người Lâm An, thuở nhỏ vốn là công tử bột, nhưng sau khi gia cảnh sa sút, chàng đã phấn chí khổ học. Năm Vĩnh Ninh thứ mười hai, chàng trở thành Trạng Nguyên Lang, là người đầu tiên đỗ Tam Nguyên Cập Đệ được ghi chép trong Dận Sử. Sau đó, chàng bái sư nhập môn dưới trướng Cố Chi Ngôn, người đang giữ chức Tể phụ lúc bấy giờ. Khi được điều ra địa phương nhậm chức, chàng lập nhiều chính tích hiển hách, từng giữ chức Bình Giang Thiêm phán, Dương Châu Thông phán. Khi hồi kinh, chàng được triệu vào triều thụ chức Điển hình tự khanh.
*[1] Thiêm phán phó quan của phủ, giúp việc cho Tri phủ. Có nhiệm vụ ký duyệt văn thư, xử lý công vụ, xét án, hành chính cùng với Tri phủ.
[2] Thông phán là chức quan giám sát và phụ tá cho người đứng đầu châu/phủ. Khác với Thiêm phán, Thông phán có quyền độc lập kiểm tra, giám sát công việc của tri phủ hoặc tri châu, đảm bảo không lạm quyền.
[3] Điển hình tự khanh là một chức quan trong hệ thống triều đình phong kiến xưa, ‘điển hình’ có nghĩa là người quản lý việc lập pháp, xử lý hình phạt, và ‘tự khanh’ là một chức quan đứng đầu trong bộ máy quan lại. Do đó Điển hình khanh là người đứng đầu cơ quan tư pháp, chịu trách nhiệm coi sóc và thi hành pháp luật hình sự của triều đình.
Đức Đế thi hành nhiều chính sách tàn bạo. Ngay năm Châu Đàn vừa về kinh đô, Tể phụ Cố Chi Ngôn vì phản đối Đức Đế xây dựng Nhiên Chúc Lâu mà bị bãi chức. Toàn bộ quan lại phe thanh liêm có liên hệ với ông đều bị tống giam. Cuối cùng, chỉ mỗi Châu Đàn chịu cúi đầu, chấp bút viết Nhiên Chúc Lâu Phú cho Đức Đế.
Bởi vậy, cũng chỉ có một mình chàng được sống sót bước ra khỏi Điển Hình Tự, sau đó được chuyển sang nhậm chức Hình Bộ Thị Lang. Khi đó, Hình bộ không có Thượng thư. Châu Đàn tuổi còn trẻ nhưng chức quan đã thuộc hàng tứ phẩm, có thể coi là bước lên nhanh như diều gặp gió.
Việc xây lầu chỉ là cái cớ, mục đích thực sự là mượn đó để thanh trừng triều đình. Kể từ đó, Châu Đàn trở thành tâm phúc của Đức Đế, “thường xuyên xiểm nịnh quân thượng, mê đắm mỹ sắc, hám tài vật, ham quyền vị”, hoàn toàn từ bỏ phong thái thanh liêm của lão sư mình.
Cố Chi Ngôn, dù khi vào ngục không bị tra tấn, còn được chuẩn cho hồi hương, song lòng ông đã không còn gì lưu luyến. Khi rời kinh, ông liền gieo mình xuống sông Thanh Khê tự vẫn. Dù ông đã khuất, song môn sinh cố hữu của ông trải khắp thiên hạ, ai nấy đều khinh bỉ hành vi của Châu Đàn. Trong một thời gian dài, vô số lời mắng nhiếc đổ lên đầu chàng.
Về sau, Châu Đàn làm phật ý Đức Đế nên bị biếm khỏi kinh. Nhưng khi Đức Đế băng hà, Lệ vương mưu đoạt vị không thành, chàng lại quay về cầm theo di chiếu thật giả khó phân, phò tá tôn tử mười bảy tuổi của Cảnh Vương lên ngôi.
Giữa vô vàn lời chửi rủa, Châu Đàn năm ấy hai mươi lăm tuổi tiến vào Chính Sự Đường, thăng lên chức Chấp Chính Tham Tri. Năm sau đó, chàng được bái Tướng, trở thành Tể phụ trẻ tuổi nhất trong lịch sử Đại Dận.
Sau khi nhậm chức Tướng, Châu Đàn lập tức chủ trì biến pháp*. Tước Hoa Lệnh chính là ra đời trong thời kỳ chàng tiến hành biến pháp này.
*Biến pháp ở đây là thay đổi phép tắc, cải cách, hoặc một cuộc cải cách lớn về chính trị, kinh tế, quân sự do một nhân vật đề xuất nhằm thay đổi hiện trạng của một quốc gia. Từ này thường dùng để chỉ các cuộc đại cải cách trong lịch sử, điển hình như ‘Biến pháp Thương Ưởng’ ở nước Tần thời Chiến Quốc.
Sử sách mô tả đơn giản vài sự kiện chàng dâng lời sàm tấu mê hoặc quân vương, làm điều gian tà vô đạo. Đồng thời cũng nói rõ rằng, do danh tiếng chàng vốn đã thối nát nên việc thi hành cải cách không mấy thuận lợi. Sau hai lần bị bãi chức rồi phục chức, Châu Đàn bị Minh Đế kiêng dè, bị bãi Tướng phế pháp, ngâm mình trong chiếu ngục ba tháng. Sau đó, Minh Đế phóng thích Châu Đàn về cố hương Lâm An.
Năm sau, vị đại nịnh thần này liền qua đời khi mới ba mươi mốt tuổi. Thứ duy nhất chàng để lại là một cuốn Xuân Đàn Tập truyền hậu thế.
Khúc Du còn nhớ rõ, khi đọc đến đoạn này, nàng đã chú thích bên cạnh một câu nói trong Tự Vi Mộ Chí Minh của Trương Đại đời Minh:
“Thuở nhỏ là công tử bột, đắm say trà đạo, cờ nghệ*, mọt sách ma thơ, nửa đời lao lực, cuối cùng tất thảy đều hóa hư ảo mộng tưởng, thứ còn lại chỉ là giường nát bàn đổ, chân kiềng gãy đàn hỏng, thật tựa cách biệt một đời.”
*Từ gốc ở đây là (橘虐 / chuộng quýt) vốn ẩn ý là ham mê đánh cờ. Sách Thái Bình Quảng Ký chép rằng: người đất Ba bổ đôi hai quả quýt, trong mỗi quả đều có hai ông lão, râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, đang ngồi đối cờ. Người xưa gọi đó là ‘niềm vui trong quả quýt’, không kém gì thú vui ở núi Thương Sơn. Từ đó, người ta dùng cụm (橘中戏) hoặc (橘中乐) để chỉ việc đánh cờ. Đến thời Minh còn có người lấy tên ấy đặt cho sách cờ.
Giờ đây, nàng cũng rất muốn cảm thán một câu: Thật tựa cách biệt một đời.
Sau khi mơ thấy Châu Đàn, nàng đã đi ngược lại với chủ nghĩa duy vật lịch sử, xuyên không đến Bắc Dận một ngàn năm trước. Lại còn nhận thánh chỉ ban hôn, trở thành xung hỉ phu nhân của Châu Đàn.
Khúc Du thở dài một tiếng, tìm một chiếc bát sứ trắng rồi múc món ngỗng om măng đã cạn nước trên bếp lửa ra, bưng trên tay bước về phía Thanh Tương Các.
Khúc Gia Hy đang ngồi bên giường cạnh Doãn Tương Như, nước mắt lưng tròng đút thuốc cho bà. Thấy bát thức ăn nàng bưng tới thơm lừng, cô bé không nhịn được nuốt nước bọt, ghé sát lại hỏi: “Đại tỷ tỷ, sao hôm nay lại có thịt ăn vậy?”
Nguyên chủ ban đầu của cơ thể này mà nàng xuyên vào có tên họ giống hệt nàng: họ Khúc tên Du, tự Ý Liên. Nàng là con gái lớn của một vị Sử quan lục phẩm ở Bắc Dận, năm nay mười bảy tuổi.
Năm ấy là năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm. Đầu năm xảy ra án Nhiên Chúc Lâu, triều đình chấn động. Phụ thân của nguyên chủ là Khúc Thừa, vì có liên quan đến Cố Chi Ngôn, đã bị tống giam hơn ba tháng.
Khúc Thừa vốn là người thanh liêm, tuy xuất thân từ danh gia thư hương nhưng họ hàng đơn chiếc, nghèo đến nỗi túng quẫn. Mẫu thân nguyên chủ là Doãn Tương Như, bận rộn lo lót cho Khúc Thừa trên dưới, đã tiêu tán hết gia sản. Khúc phủ ngay cả người hầu cũng chỉ còn lại thưa thớt.
Khúc Du vừa đến đã phải đối mặt với nguy cơ chết đói, đành phải thay thế mẫu thân đang bệnh tật chăm lo việc nội trợ.
Nàng đã phải tốn rất nhiều công sức mới có thể bình tĩnh xoay xở giữa mọi người, vừa không để ai nhận ra nàng đã thay đổi tính nết, vừa từ từ rèn cho người trong phủ tự mình đi chợ nấu ăn, thêu thùa may vá, xách nước quét dọn, đừng cố chấp với tư tưởng của nhà nho rằng ‘quân tử thì nên tránh xa bếp núc’.
Thành quả khá khả quan, nhưng Khúc Du còn chưa kịp hài lòng thì một đạo thánh chỉ đã giáng xuống cửa, ban hôn nàng cho Châu Đàn, lúc bấy giờ đang nhậm chức Hình Bộ Thị Lang.
Doãn Tương Như lĩnh chỉ tạ ơn xong, còn chưa kịp thốt nên lời đã ngất lịm đi.
Nguyên chủ của thân thể này, ở Biện Đô, vốn là một tài nữ nổi tiếng. Cùng với con gái của Chấp chính Cao gia, nàng được xưng là ‘Kinh Đô Song Thù’. Hai người từng liên thơ một trăm linh tám câu trong Thì Hoa Yến, trở thành câu chuyện đẹp được người đời ca tụng một thời.
“Khúc ý ứng liên, thư vân lãm nguyệt”, thêm việc nguyên chủ dung mạo xinh đẹp tựa sắc xuân buổi sớm, khiến người đến cầu thân nối liền không dứt.
Thế nhưng, Khúc Thừa và Doãn Tương Như sợ con gái chịu uất ức tủi thân trong chốn cao môn nên đã từ chối mọi mối hôn sự, dự định sẽ từ từ chọn một học tử có học vấn cao hoặc một sĩ tử có nhân phẩm đáng quý.
Nào ngờ, gió mưa bỗng chốc thay đổi. Khúc Thừa bị tống giam, Khúc phủ lớn bỗng chốc không nơi nương tựa, hôn sự của con cái cũng không thể tự quyết. Sau khi Doãn Tương Như ngất đi, Khúc Du dò hỏi trong phủ, biết rằng Khúc Thừa tuy có chút quan hệ mờ nhạt với Cố Chi Ngôn nhưng trước nay chưa từng có tư giao với Châu Đàn.
Vị hoạn quan* truyền chỉ có tiết lộ vài lời, nói rằng Đức Đế sáng nay nghe Quý phi nhắc đến nàng, tiện miệng chỉ định ban hôn nàng cho Châu Đàn, người mới vừa bị ám sát hai ngày trước.
*Hoạn quan là người đàn ông bị thiến (cắt bỏ bộ phận sinh dục) và thường được tuyển vào cung đình để phục vụ vua chúa, hoàng hậu, phi tần trong các triều đại phong kiến — đặc biệt phổ biến ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và một số nước Á Đông khác. Có nhiều tên gọi để chỉ hoạn quan: thái giám, công công, tự nhân, yêm nhân, nội thị, thị nhân, yêm hoạn, hoạn giả, trung quan, nội quan, nội thân, nội giám…
Châu Đàn vừa phản bội Cố môn, nhậm chức Hình Bộ Thị Lang chưa đầy ba tháng, chính là lúc danh tiếng xấu xa tệ hại nhất. Văn nhân thiên hạ chỉ hận không thể ăn thịt uống máu chàng. Nếu ai biết con gái nhà mình gả cho một người như vậy, có lẽ sẽ tức đến căm giận không nguôi.
Khúc Du nghĩ đến đây lại thở dài thêm một tiếng. Lòng dạ đế vương quả nhiên đa nghi. Dù Châu Đàn có bán đứng sư môn để cầu tự bảo toàn, lại còn bị ám sát, sinh tử chưa rõ, Đức Đế vẫn phải ban một mối hôn sự nhục nhã để xung hỉ cho người này.
Nếu Khúc Thừa không được phóng thích, nàng sẽ trở thành thê tử của một tội thần, e rằng thường xuyên phải chịu nhục nhã chê cười. Còn nếu Khúc Thừa được khôi phục quan chức, thì việc chàng cưới hậu duệ của đảng phái trong sạch khác nào một cái tát giáng thẳng vào mặt.
Doãn Tương Như dĩ nhiên muôn phần không thuận với mối hôn sự này, song thánh chỉ đã ban, chẳng còn nửa phần khả năng xoay chuyển. Khúc Du ngồi trong phòng suy nghĩ cả buổi chiều, ghi chép lại nhiều hồi ức, nhưng lại cảm nhận được một nỗi bình tĩnh lạ thường.
Năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm, Châu Đàn cưới thê, thê tử mang họ Khúc. Chiếu chỉ ban hôn tỏ rõ ân sủng. Tư liệu đời tư của Châu Đàn quá ít ỏi. Chàng chỉ cưới thê một lần, phu nhân chỉ được chép lại họ. Ở cuối Xuân Đàn Tập, có một bài thơ viếng thương thê tử đã khuất, lời lẽ ẩn ý không rõ ràng. Bởi vậy, chủ nhân của thân thể này chính là vị Khúc thị được ban hôn cho Châu Đàn, nguyên phối phu nhân của chàng trong lịch sử.
Khúc Du nghĩ thông suốt chuyện này, lại cảm thấy lạ lùng. Nàng vốn không phải học giả chuyên nghiên cứu về Châu Đàn, chỉ vì hứng thú chút ít với chủ đề biến pháp của chàng. Nếu không có Tước Hoa Lệnh, e rằng nàng còn chẳng đọc thơ tập của chàng.
Khúc Du từ nhỏ đến lớn đã đọc không ít điển tịch sử sách, cũng xem không ít sách vở kịch bản xuyên không. Người ta nói, chỉ khi có chấp niệm mới có thần tích, cũng như lời giáo sư thường nói có thể gặp nhân vật mình nghiên cứu trong mộng. Nàng vốn không có chấp niệm, vậy vì lẽ gì lại đến được nơi này, trở thành người ở bên cạnh Châu Đàn?
Khúc Du không phải người theo chủ nghĩa vô thần. Những ngày này, nàng càng cảm thấy như có một mối nhân duyên huyền bí vô hình. Đêm khuya, nàng thường trằn trọc nghĩ ngợi, tự hỏi liệu đây có phải kiếp trước của mình chăng. Nhưng nàng tuyệt đối không ngờ mình lại có bất kỳ giao thoa nào với Châu Đàn.
Lịch sử liệu có thể cải biến? Thế gian vốn tồn tại hiệu ứng cánh bướm, một biến số đơn giản cũng có thể khiến toàn bộ trật tự đổi thay. Việc nàng xuyên không đã xảy ra, đây có tính là một sự cải biến chăng?
Khúc Du không thể trả lời câu hỏi này, song sử sách vẫn còn đó. Ít nhất vào lúc này, dù cuộc hôn sự có liên quan đến bản thân, nàng cũng không muốn can thiệp vào chuyện này. Bởi lẽ nàng là người đến từ ngoại cuộc, là người nghiên cứu lịch sử chứ không phải người viết nên lịch sử. Có thể nhìn thấy những kẽ hở mà người đời sau khó biết đến, như vậy đã là phúc phận rồi.
Điều duy nhất có thể làm chính là nương vào những kẽ hở ít ai chạm tới, mà dựng nên một cõi riêng cho bản thân.
Châu Đàn dẫu bản tính lạnh nhạt, không một bằng hữu tri kỷ, song những lời công kích nhắm vào chàng không hề có sự ngược đãi với thê tử. Người này đắm mình trong quyền thuật, ít khi lui tới hậu trạch, e rằng số lần gặp mặt cũng không nhiều. Dẫu sao, bài thơ tiếc thương thê tử nằm ở cuối Xuân Đàn Tập, nàng hẳn có thể sống đến thời điểm đó chăng? Hơn nữa, nàng không muốn tự dối lòng, nàng không muốn từ hôn. Ngoài việc đó là thánh ý, là sử sách ghi lại thì còn một nguyên do trọng yếu hơn.
Châu Đàn hẳn về sau này sẽ kết giao với người vô danh chủ biên Tước Hoa Lệnh kia. Người vô danh đã làm nàng trăn trở ngàn lần, dẫu nàng giở nát cuốn Dận Sử cũng chẳng tìm thấy dấu vết! Biến pháp không phải công lao một sớm một chiều. Tước Hoa Lệnh ắt hẳn đã được dày công biên soạn suốt một thời gian dài. Chỉ cần ở bên cạnh chàng, nàng nhất định có cơ hội biết được lai lịch của người vô danh kia.
Nàng nguyện ý nhìn nhận chuyện này bằng một góc độ duy mỹ hơn. Sau khi thành thân, nàng còn có thể tự do hơn phận nữ nhi chốn khuê phòng. Phong thổ nhân tình, núi sông biển cả của Đại Dận, những bậc danh sĩ ngàn năm phong lưu của bản triều trong lịch sử, cùng với bộ luật mà nàng đã miệt mài nghiên cứu suốt sáu năm… nàng đều muốn tự mình khám phá một phen.
Khúc Du nghĩ đến đây, nhiệt huyết học thuật dâng trào. Chuyện xuyên không chẳng thể dùng chủ nghĩa duy vật để giải thích, nhưng khoảnh khắc này nàng thực sự nhận ra, nàng chỉ còn một bước chân nữa là chạm tới những điều nàng đã nghiên cứu bao nhiêu năm.
Ba triều Tuyên, Đức, Minh, nhân vật phong lưu xuất hiện lớp lớp: vị tướng quân trẻ tuổi một thương phá giặc ba mươi dặm, vị thi nhân lãng tử một lời lưu truyền ngàn năm, vị danh thần ngàn đời một câu nói vang vọng khắp hải nội… Triều đình quân tử tranh luận chính sự, đường phố ca múa không ngớt, lại có cả thần y dân gian viết nên y thư kỳ tuyệt, thợ thủ công tài hoa tạo ra khí cụ công nghệ, hay những tuyệt thế giai nhân sống trong từ khúc, thư họa.
Thời Vĩnh Ninh hay Trọng Cảnh, thế gian nhiều quân tử. Dù biết triều đại phong kiến có những tư tưởng lạc hậu và mục ruỗng khó lòng thoát khỏi, nhưng nàng biết hậu vận, biết mình đang sống trong một thời đại quần tinh tỏa sáng như vậy, làm sao có thể không dâng trào cảm xúc? Không biết bạn bè, đàn anh đàn chị cùng khoa với nàng có suy nghĩ ngây thơ như nàng hay không. Dẫu biết sẽ bị thời đại làm tổn thương nhưng nàng vẫn muốn đích thân đến đây nhìn ngắm một lần.
Khúc Gia Hy thấy nàng ngây người, liền khuơ khuơ tay trước mặt nàng vài cái. Khúc Du lúc này mới hoàn hồn, mỉm cười xoa đầu cô bé: “Ăn đi, thịt ngỗng trắng om măng này ninh chín rồi đợi tới khi cạn nước là lúc thịt ngon mềm nhất. Muội đã bầu bạn với mẫu thân cả ngày, cũng cực nhọc rồi.”
Tài nấu nướng của nàng không tệ. Nàng vốn nghĩ Khúc Du thuở trước chắc hẳn là tiểu thư không hề đụng tay vào việc bếp núc, nhưng không ngờ mọi người lại chưa bao giờ nghi ngờ tài nấu nướng của nàng.
Khúc Gia Hy ăn ngon lành: “Đại tỷ tỷ, món chưa từng nếm qua mà tỷ cũng làm khéo léo đến vậy…”
Nói đến giữa chừng, cô bé bỗng khựng lại: “Khoan đã, ngỗng ư? Ngỗng ở đâu ra vậy?”
Khúc Du thong thả đáp: “Dĩ nhiên là một trong hai con ngỗng trắng được đưa đến cùng với sính lễ rồi.”
Khúc Gia Hy kinh hãi thất sắc: “Đại tỷ tỷ, đó là sính lễ của tỷ đó!”
Khúc Du bị vẻ mặt há hốc miệng, tay cầm đùi ngỗng của cô bé chọc cười: “Đằng sau bếp đến thịt cũng không còn, sính lễ gì mà sính lễ.”
Châu Đàn lúc này vẫn còn sống chết chưa rõ. Người thân bên mẫu tộc của chàng là Nhậm gia tiếp nhận thánh chỉ rồi thay mặt gửi sính lễ. Chỉ đưa qua hai con ngỗng trắng, một trăm quan tiền, một rương vải mới đủ loại chất liệu, cùng với gạo, bột, củi, dầu mỗi thứ một chút. Sính lễ tầm thường thậm chí còn mang ý sỉ nhục. Nhậm gia dường như rất căm ghét Châu Đàn, nhưng lại e dè quyền thế của chàng, đành phải làm việc qua loa. Giờ đây, e rằng đoán chừng Châu Đàn khó sống nổi, họ mới dám hành xử như thế.
Kẻ đưa sính lễ mặt mày hời hợt ngạo mạn, thậm chí còn trêu chọc Khúc Hướng Văn, người thay nàng ra mặt: “Tiểu công tử chẳng cần phải xấu hổ hay tức giận, Châu đại nhân thương nặng không qua khỏi, cái gọi là xung hỉ chẳng qua cũng chỉ là làm cho có lệ mà thôi. Chờ tỷ tỷ nhà ngươi qua cửa, phát tang xong xuôi, chẳng phải gia sản Châu phủ đều thuộc về tay nhà ngươi cả sao?”
Khúc Hướng Văn tức đến đỏ bừng mặt, thuật lại lời nói mà lắp ba lắp bắp. Khúc Du vỗ vai cậu, lười đến mức chẳng buồn tức giận. Dù sao, nàng biết Châu Đàn sẽ không chết.
“Đại tỷ tỷ, tỷ thật sự muốn gả cho… vị Châu Thị Lang đó sao?” Khúc Gia Hy nuốt miếng thịt trong miệng, thút thít nhỏ giọng nói: “Muội nghe nói, người đó chẳng phải người tốt, bội tín bạc nghĩa, khi sư phụ hữu, huống hồ chi ý chỉ của bệ hạ đã nói là xung hỉ, vậy chẳng phải người đó sống chẳng được bao lâu nữa sao…”
Cô bé còn chưa dứt lời, Doãn Tương Như đang nằm trên giường bệnh đã yếu ớt gọi một tiếng: “A Liên…”
“Mẫu thân, người tỉnh rồi sao?” Khúc Gia Hy vội vàng quay lại, hấp tấp hỏi.
Doãn Tương Như khẽ gật đầu, ra hiệu cho cô bé đi ra ngoài trước. Khúc Gia Hy hành lễ, Khúc Du nhét bát ngỗng om măng vào tay cô bé, rồi mới ngồi xuống bên giường Doãn Tương Như.
“A Liên, vì hôn sự của con, ta và phụ thân đã lo liệu từ lâu, không ngờ gia môn sa sút, rốt cuộc cũng vô dụng.” Doãn Tương Như vừa mở miệng, liền nắm lấy tay nàng, nhỏ lệ nói: “Ta có nghe qua vài lời đồn đại, vị Châu Thị Lang này tuy tuổi trẻ phong lưu, lại là kẻ khó lòng phó thác. Hơn nữa, giờ đây hắn trọng thương khó chữa, nếu chẳng may lìa đời, chẳng phải con còn trẻ mà đã phải thủ tiết sao? Triều ta tuy có nhiều người tái giá, nhưng mối hôn sự này là Thánh thượng ban, con làm sao có thể…”
Bà nắm chặt tay Khúc Du, ho khan nói: “Con gái, nếu phụ thân con còn đây, e rằng thà liều tội chết, bắt con xuống tóc làm ni cô cũng không muốn con chịu nhục! Nhưng con còn xuân sắc như vậy, lòng mẫu thân không đành. Giờ đây phải làm sao mới tốt đây?”
Nghe những lời đầy tình thương khẩn thiết này, Khúc Du cũng không khỏi ướt khóe mắt, áp mặt vào tay bà, gọi: “Mẫu thân…”
Doãn Tương Như yêu thương vuốt tóc mai của nàng: “Ta biết con tính khí cương trực, nhưng đến nông nỗi này, ta vẫn muốn khuyên một câu. Tuyệt đối không được học theo kẻ ngu trung*, làm chuyện nghĩ quẩn. Ngày sau, ngày sau—”
*Trong lịch sử hoặc truyện cổ, người ngu trung là những kẻ trung thành với vua, lãnh đạo nhưng không biết phê bình, cảnh báo khi sai, chỉ nghe theo mệnh lệnh một cách mù quáng.
Bà chưa nói xong, đã ho liên tục. Khúc Du xoa lưng bà, đưa khăn tay qua. Nàng do dự hồi lâu, cuối cùng cũng nói ra điều đang nghĩ trong lòng: “Mẫu thân yên tâm, ngày sau chưa tới, con sẽ sống tốt ngày trước mắt này.”
“Hôn nhân là đại sự đời người con gái, nhưng con cũng từng thấy mẫu thân và phụ thân xướng họa thơ từ, gửi gắm tình cảm qua thư họa. Nếu không vì thân thể không khỏe, e rằng mẫu thân sớm đã bước ra khỏi hậu trạch, cùng phụ thân du sơn ngoạn thủy rồi… Hiện tại con tuy bị kẹt trong cảnh khốn cùng, nhưng nhờ ơn dạy dỗ của song thân, không dám tự bỏ mình. Bất luận phu quân là người như thế nào, con cũng sẽ cố gắng vun đắp, không rơi vào ngõ cụt.”
“Đứng giữa thế gian, chẳng có chuyện gì là thuận buồm xuôi gió, mẫu thân nói có phải không? Sự tại nhân vi (mọi việc đều do con người làm nên), con gái nhất định sẽ tự quý trọng bản thân, cũng xin mẫu thân giữ gìn sức khỏe, chớ vì con mà ưu phiền.”