Thôn Long Vỹ

Bách Yêu Phổ 5 - Sa La Song Thụ thuộc thể loại Linh Dị, chương 19 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.

Đã ba ngày trôi qua kể từ khi nàng lưu lại thôn Long Vỹ, mà vẫn chưa thể rời đi.
Trên đường đến đây, nàng đi qua không ít làng mạc, trấn nhỏ, tuy chẳng nơi nào phồn hoa, nhưng cũng không nơi nào hoang phế đến thế. Cả thôn giờ chỉ còn một gia đình. Lão Hoắc đã mất, chỉ còn Hà Đông Lai và Mạc Tiểu Vận gồng gánh. Những ngôi nhà khác đều trống hoác, đổ nát. Nếu không nhờ mái ấm của Lão Hoắc còn chút hơi người, nơi này chẳng khác nào làng ma bị lãng quên.
Hà Đông Lai kể, nửa tháng trước, Vương Đại Tuyền ở đầu thôn đã dắt cả nhà bỏ đi. Từ đó, họ mất luôn người hàng xóm cuối cùng. Vương Đại Tuyền là người tốt, trước khi đi còn để lại ít lương thực. Lão Hoắc khi ấy vẫn còn khoẻ, tiễn họ đến tận ngoài thôn. Câu cuối cùng Vương Đại Tuyền nói với lão là: “Đừng ở lại nữa, nơi này thật sự chẳng còn gì cả.”
Dưới ánh nắng sớm, Lão Hoắc vẫy tay, mỉm cười chúc: “Thượng lộ bình an.”
Nàng – người đã làm “A Hảo tỷ” suốt ba ngày – lúc này đang đứng trước mảnh vườn rau sau nhà. Trong luống rau mọc thưa thớt vài loại rau xanh chẳng biết tên, trông ủ rũ. Ba con gà đang nhẩn nha mổ đất mép vườn, hai đứa trẻ miệt mài gia cố lại ổ gà. Chúng đặt tên cho lũ gà: Đại Tráng, Nhị Tráng, Tiểu Tráng – kỳ vọng giản dị nhất của chúng. Với chúng, trứng gà quý hơn vàng, dù thực ra chúng chẳng hiểu vàng là gì, chỉ biết thức ăn mới là tất cả.
Phía sau vườn là con sông nhỏ, bên kia bờ là đồi núi phủ rừng, xa hơn nữa là vùng hoang mạc khô cằn, cuối cùng ẩn hiện dãy núi tuyết chìm trong mây mù. Địa hình biên giới đế quốc vốn phức tạp, khiến con người khó lòng yên tâm. Trong từng ngóc ngách, bóng tối nào cũng có thể ẩn chứa hiểm nguy bất ngờ.
Hà Đông Lai và Mạc Tiểu Vận đang mang giỏ tre, cầm xẻng con, kiểm tra mặt đất giữa nhà và bờ sông. Thỉnh thoảng, họ cúi người, chọc xẻng xuống đất. Họ đang kiểm tra các cơ quan ngầm – những bẫy mà Lão Hoắc tự tay chế tạo, còn đáng sợ hơn cả bẫy thú. Những bẫy này phải thay đổi vị trí định kỳ, không để lộ quy luật. Chỉ có họ mới biết đường đi an toàn. Dù không hiểu vàng là gì, bọn trẻ lại rất rõ cách tự bảo vệ mình giữa một thế giới tàn khốc.
Chúng nói: bẫy không phải để chống thú dữ, mà để chống người – những kẻ còn tàn bạo hơn cả dã thú.
Trước khi họ đến thôn Long Vỹ, binh sĩ biên ải đã trải qua vô số trận đánh lớn nhỏ. Nhưng lũ man di thèm khát lãnh thổ đế quốc ngày một mạnh, trong khi hậu phương thiếu tiếp tế. Sau nhiều lần cân nhắc, khu vực này – vốn chẳng mấy quan trọng – bị bỏ mặc.
Từ đó, thôn Long Vỹ và các làng mạc xung quanh bắt đầu suy tàn.
Mất đi sự bảo vệ hiển nhiên, quân địch tràn vào như lũ. Gọi là quân đội, nhưng chẳng khác gì kẻ cướp: cướp tiền, cướp lương, cướp người. Thứ gì lọt vào mắt, dù là một con chó, cũng không thoát. Không cướp được thì đốt – chuyện thường ngày. Ban đầu, dân làng không chịu khuất phục, lập dân đoàn chiến đấu đến cùng. Nhưng chênh lệch quá lớn. Chỉ vài năm ngắn ngủi, nhà tan cửa nát đã là điều hiển nhiên. Cuối cùng, chỉ còn một con đường: chạy trốn.
Người không chạy, chỉ còn Lão Hoắc.
Mạc Tiểu Vận kể: nàng và Hà Đông Lai từng đồng hành ngang qua thôn Long Vỹ, suýt chết cóng trong trận bão tuyết. Chính Lão Hoắc đã nhặt họ về. Hai bát canh nóng cứu họ từ cõi chết.
Lúc đó, trong nhà Lão Hoắc có tám đứa trẻ mồ côi. Đứa lớn nhất mới bảy tuổi, đứa nhỏ nhất vừa biết đi. Gầy gò như mèo hoang, chen chúc trước mặt hai người, vừa nuốt nước miếng vừa nhìn chằm chằm vào thức ăn trên tay họ. Lão Hoắc nhặt được cả tám đứa. Những năm ấy, người chết quá nhiều, người ly tán quá nhiều. Kẻ chỉ lo thân mình, chẳng màng đến ai cũng quá nhiều. Đi dọc đường mà “nhặt” được một đứa trẻ mất cha mẹ, dễ đến mức rợn người.
Ân tình hai bát canh cũng là ân. Dù đang trên hành trình chẳng biết khi nào đến đích, họ quyết định ở lại. Việc Lão Hoắc chăm tám đứa trẻ một mình rõ ràng quá sức. Ban đầu, họ định đợi đến mùa xuân năm sau rồi đi. Nhưng xuân đến thì phải cày đất trồng rau, lại nghĩ để thu đi. Đến thu thì lo áo ấm cho bọn nhỏ, thôi thì để sang xuân sau nữa… hoặc thu sau nữa… cứ thế, hai năm trôi qua.
Trong hai năm đó, điều khiến họ khổ sở nhất không phải thời tiết khắc nghiệt hay thiếu thốn, mà là lũ xâm lược không biết xấu hổ. Chúng cao lớn, đầu tóc buộc kiểu quái dị, cưỡi ngựa, mang đao cong sắc bén, càn quét khắp các làng vốn đã kiệt quệ vì chiến tranh, không hút cạn máu thì không thôi. Dù không rõ chúng là tàn quân tách ra từ quân địch hay đám ô hợp nhân cơ hội, tai hoạ mà chúng gây ra đều như nhau.
Chúng cướp quá nhiều, mà vẫn chưa đủ. Về sau, cướp bóc thành thói quen, thành trò tiêu khiển. Hình ảnh người dân tay không tấc sắt run rẩy, bất lực, lại là thứ khiến chúng thích thú nhất.
Ban đầu, ai cũng nghĩ Lão Hoắc chỉ là một ông lão nông dân bình thường, khéo tay nấu cơm, may vá, chăm trẻ. Không ai ngờ ông có võ nghệ. Dù đã có tuổi, ông vẫn bật người, đá văng tên đầu sỏ mập mạp khỏi ngựa, giật lấy đao, đâm một nhát vào đùi khiến hắn gào thét. Điều khiến Lão Hoắc nổi giận là vì tên béo ấy quay lại thôn “tìm vui”. Lúc đó, quá nửa dân làng đã bỏ đi, đồ đạc đáng giá chẳng còn. Còn lại chỉ là người già yếu, bệnh tật không đi được, hoặc như nhà Vương Đại Tuyền – người còn luyến tiếc, do dự không nỡ rời quê.
Chúng định cướp vợ Vương Đại Tuyền. Hắn và cha vợ quỳ rạp dưới vó ngựa, khóc lóc van xin. Cha vợ đưa ra số hạt giống cuối cùng giấu kỹ, hứa sẽ dâng hết lương thực sau thu hoạch, chỉ cầu giữ được bình an. Tên đầu sỏ suy nghĩ một lát rồi nói: “Hai đứa mày quỳ xuống, sủa chó cho tao một trăm tiếng, tao tha cho.”
Đó là nỗi nhục phải dùng đến đao mới rửa được. Nhưng Vương Đại Tuyền dù nghiến nát răng cũng không rút đao. Thân hình gầy gò của hắn co rúm lại trong gió. Hắn chỉ biết trồng trọt, biết chọn mảnh vải rẻ mà tốt may áo cho vợ, biết chăm hoa sắp chết đến khi nở rộ. Nửa đời bình yên, hắn chưa từng đánh nhau, thậm chí chó trong làng cũng không đánh nổi.
“Gâu… gâu… gâu…”
Danh dự không lớn hơn mạng sống. Không có thực lực, thì không thể chống cự.
Cả đám cười phá. Tên béo cười đến nhe cả hàm răng vàng khè, lởm chởm: “Ha ha ha! To hơn chút nữa! Gọi ta là cha mày đi!”
Giữa lúc ấy, giọng Lão Hoắc vang lên: “Gọi thằng cha ngươi?!” Giọng ông như tiếng chim ưng đã đậu yên lâu, bỗng chốc vỗ cánh, xé toạc bầu trời.
May mắn thay, võ nghệ tên béo không xứng với vẻ ngoài hung hãn, lại chỉ mang theo ba tên tay chân.
Nhờ sự bùng nổ của Lão Hoắc, cộng thêm sự hoảng loạn của kẻ quen bắt nạt khi bị phản công, địch thua cả về võ nghệ lẫn khí thế. Chúng chỉ còn biết bế tên đầu sỏ bị thương mà cuống cuồng bỏ chạy. Tất nhiên, lúc đi vẫn không quên quay đầu đe doạ – nhưng chỉ dám hét khi đã chạy xa.
Cả nhà Vương Đại Tuyền ôm chầm lấy Lão Hoắc, vừa khóc vừa cảm ơn.
Sau đó vài ngày, Lão Hoắc bận rộn hơn hẳn. Ông cùng lão thợ rèn què trong thôn dùng nguyên liệu còn lại chế tạo những thứ mà ông gọi là “đồ chơi nhỏ”.
Đó là các cơ quan của Lão Hoắc. Ông nói, lão thợ rèn làm. Rồi ông dành trọn một ngày một đêm, chôn những thứ đó theo đúng bố trí quanh thôn.
Quả nhiên, địch không nuốt được cục tức, sớm quay lại. Vẫn là tên béo dẫn đầu – hắn không chấp nhận bị “kiến” cắn đau. Lần này, hắn mang theo hơn chục người, còn nghĩ sẵn cách tra tấn ông già để không chết.
Ngoài dự liệu, chúng lại bị cắn thêm lần nữa. Trên con đường quen thuộc đến mức thuộc lòng, bỗng dưng xuất hiện những bẫy khủng khiếp. Những thứ kỳ dị trồi lên từ lòng đất, ngoạm chặt chân ngựa không phòng bị. Không chỉ là bẫy thú – khi bọn chúng bị hất văng khỏi lưng ngựa, hàng loạt mũi kim sắt sắc bén như mưa bắn tới. Dù áo giáp che chắn phần lớn, nhưng những chỗ hở vẫn khiến chúng gào thét loạn xạ.
Lúc mang mớ bẫy còn chưa hoàn chỉnh về, Lão Hoắc dặn Hà Đông Lai phải dùng lá cây “cỏ thích hạt châm” bôi kín lên từng mũi kim. Loài cỏ này mọc bên kia sông, chạm vào đã đau buốt. Thỉnh thoảng có con thú ngu ngốc ăn phải, chưa đi được ba bước đã tê liệt, co giật trên đất. Chính Hà Đông Lai phát hiện ra nó. Nàng nói cha mình là thợ săn giỏi nhất, từ nhỏ đã thấy ông dùng nhựa cỏ này bôi lên mũi tên, mũi dao – hiệu quả gấp đôi.
Tóm lại, mấy chục tên đi trả thù một ông già, mà lại thất bại thêm lần nữa.
Hôm đó, bên ngoài thôn Long Vỹ người ngựa ngã đổ. Tên béo bị kim châm đến mức bất động, chỉ biết há miệng chảy dãi, được mấy tên bị thương dìu đi, vừa rên vừa lê. Những kẻ may mắn chưa bị thương thì đứng im, không dám động đậy – ai biết mảnh đất bị ức hiếp lâu ngày này còn giấu bao nhiêu đòn hiểm?
Lão Hoắc đứng trong ánh tà dương, tay cầm dao thái rau, sẵn sàng đối đầu sống chết nếu cần.
Nhưng bên kia, không ai dám bước bước đầu tiên.
Khí thế thật kỳ lạ. Chiến mã cao lớn, đao cong ánh bạc, lại trước mái đầu bạc và con dao thái rau của Lão Hoắc, bỗng chốc trở nên thấp bé.
Kẻ sợ chết và kẻ không sợ chết giằng co cho đến khi hoàng hôn buông xuống, đối phương cuối cùng quay đầu, chật vật rút lui.
Lần này, lý do chúng đưa ra là: “Hôm nay không phải ngày lành.” Các thuộc hạ an ủi tên thủ lĩnh thất bại liên tiếp: “Không sao, lần sau mời vu sư xem ngày tốt rồi đến dạy dỗ!”
Đổ lỗi cho ông trời – ít ra cũng giữ lại chút thể diện.
Chờ đến khi bóng dáng kẻ địch khuất hẳn, Lão Hoắc – người căng thẳng đến mức tóc dựng đứng – mới hít sâu một hơi. Bàn tay siết chặt con dao bếp cuối cùng cũng thả lỏng.
Thoạt nhìn là chiến thắng về khí thế, nhưng thực ra là một canh bạc. Ai dám chắc trong hai mươi tên kia, không có một kẻ liều mạng?
May mà thật sự không có.
Hai cô gái nấp gần đó, nín thở theo dõi, thấy nguy cơ qua đi mới vội chạy đến đỡ Lão Hoắc – ông suýt ngã ngồi.
Mồ hôi lạnh trên trán Lão Hoắc chỉ chịu rịn ra khi đối phương vừa rút lui.
Một trận thắng trong gang tấc.
Câu đầu tiên ông nói khi lấy lại tinh thần là trách hai đứa: sao không nghe lời, lại dám chạy ra khỏi mật thất? Nếu bị thương thì tính sao?
Hà Đông Lai giơ con dao găm bên người: “Không thể để một ông lão như ông đơn độc đối đầu. Dù là nữ, nhưng ta là con gái thợ săn, dùng dao quen hơn dùng kim chỉ. Nếu chúng thật sự xông vào, dù không thắng, ta cũng phải kéo theo hai ba tên chết theo.”
Mạc Tiểu Vận nói: “Tuy ta không giỏi võ, nhưng ít ra cũng giúp được chút.”
Lão Hoắc vừa bực vừa buồn cười: “Nói hay lắm, cơ mà đến cái mái nhà cũng sửa không xong.”
Mật thất của Lão Hoắc nằm bên bếp, ẩn trong buồng chứa đồ. Dọn lớp cỏ khô, vật linh tinh, lộ ra một chiếc vòng đồng. Kéo lên, theo dốc nghiêng đi xuống – là một thế giới khác.
Từ khi đụng độ với lũ người kia, mỗi lần có động tĩnh, việc đầu tiên Lão Hoắc làm là bảo tám đứa trẻ chui vào mật thất trốn.
Hai cô gái luôn thắc mắc: một lão nông như Lão Hoắc, giỏi nắm đấm thì thôi, sao đào được mật thất thế này?
Mật thất khá rộng. Bên trong ngoài nước sạch, lương thực, còn đầy sách tre và một đống vũ khí, giáp trụ hư hại. Lão Hoắc xếp “đống đồng nát” đó rất ngăn nắp. Bên cạnh sách, trên giá gỗ đặt một bộ giáp đen hoàn chỉnh, chi chít vết xước.
Chỉ khi nhìn vào nó, ánh mắt Lão Hoắc – vốn đã bị năm tháng mài mòn thành hiền hậu, nhẫn nại – mới bừng lên sắc bén, thâm trầm như vừa tỉnh mộng. Nhưng ánh mắt ấy chỉ lóe lên khoảnh khắc, rồi lại chìm vào nỗi lo thường nhật: tối nay ăn gì?
Lão Hoắc kể: “Tiểu Sơn thường nói nơi này là ‘tàng bảo các’ trong truyền thuyết.”
Trẻ con mà, đào cái hang, dựng cái lán là gọi là “căn cứ bí mật”. Đống sắt vụn người lớn vứt bỏ, lại thành báu vật với chúng.
Với Tiểu Sơn nhỏ, những thanh kiếm, thanh đao không chủ nhân là kho báu khao khát nhất. Nhưng Lão Hoắc chưa bao giờ cho. Ông nói: “Đây không phải đồ chơi, mà là những người đã vĩnh viễn không trở về, nhưng cũng vĩnh viễn không rời đi. Đợi con lớn, con sẽ có kiếm và áo giáp của riêng mình.”
Lúc ấy, Tiểu Sơn nào hiểu?
Cho đến nhiều năm sau, khi khoác bộ giáp vừa vặn, tay cầm kiếm dính máu, chiến đấu đến kiệt sức nơi chiến trường, hắn mới hiểu vì sao Lão Hoắc phải nhặt nhạnh từng mảnh giáp, từng mảnh kiếm gãy rải rác theo thời gian.
Lúc ấy, thanh kiếm của hắn đã có vô số vết mẻ, bị kẻ địch ngạo mạn giẫm dưới chân. Hắn và những huynh đệ còn sống sót cũng bị giẫm dưới chân.
“Quỳ xuống! Đầu hàng! Tha chết cho các ngươi!”
Lũ man di nói tiếng đế quốc ngọng nghịu, buồn cười.
Hắn bật cười. Có lẽ xương sườn gãy, vừa cười vừa ho ra máu. Nhưng vẫn rất buồn cười.
Hắn vừa ho vừa cười: “Về đi. Nơi này không phải đất của các ngươi. Ngay cả tiếng của chúng ta, các ngươi còn nói không tròn.”
Hắn gượng đứng dậy từ dưới chân chúng, tay bị trói sau lưng nhưng lưng vẫn thẳng.
Giọng hắn quả quyết mà ôn hòa – như khi Lão Hoắc gọi hắn thuở nhỏ: “Về ăn cơm đi.”
Tên cưỡi ngựa khinh bỉ rút đao cong: “Giờ là đất của chúng ta rồi.”
Hắn lắc đầu: “Chúng ta sẽ không rời đi. Các ngươi sẽ không vượt qua được đâu.”
Một tràng cười vang lên. Lũ man di nghĩ tên tù binh này chắc đầu đã bị thương, đang nói mê.
Cùng lúc đó, ở thôn Long Vỹ, Lão Hoắc đang nhổ cỏ trong vườn, nhận được thư nhà của Tiểu Sơn.
Chỉ vài dòng: “Địch mạnh ta yếu, nhưng một tấc đất cũng không nhường. Không lui, không hàng.”
Thư chắc đã đi rất lâu. Thời loạn như thế, đến tay đã là may mắn.
Chữ của đứa nhỏ vẫn đẹp như xưa. Học giỏi lắm, nếu không nhập ngũ có thể làm được nhiều việc. Nhưng nó luôn nhớ đến thanh kiếm và bộ giáp của riêng mình.
Vậy trận chiến ấy là thắng hay thua? Phải chờ bao lâu nữa mới biết?
Lão Hoắc cất thư, tiếp tục lúi húi trong vườn dưới ánh tà dương.
Dưới nắng gay gắt, lưỡi đao cong phản chiếu ánh sáng chói mắt, mũi đao đã kề sát trán Tiểu Sơn.
“Ta hỏi lại: đầu hàng hay không?!”
“Không đầu hàng!”
“Không đầu hàng!”
“Không đầu hàng!”
Khi mảnh vườn rau của Lão Hoắc lại đón một mùa thu hoạch mới, có người mang thân mình mỏi mệt đến báo tin: Tiểu Sơn đã tử trận.
Trong trận chiến ấy, địch giết sạch những binh sĩ kiên quyết không đầu hàng, rồi thiêu xác họ thành tro. Tiểu Sơn không thể trở về.
Người đưa tin trao Lão Hoắc một túi đất nhỏ: “Tiểu Sơn có thể nằm trong này. Ngoài ra, chúng tôi không mang được gì.”
Mùa thu năm sau, vợ Lão Hoắc qua đời. Trước khi mất, bà thở than: “Nếu năm xưa ông không giết quá nhiều người, có khi Tiểu Sơn đã không đoản mệnh.” Bà ôm bộ quần áo cũ của Tiểu Sơn, vừa cười vừa khóc, rồi ra đi.
Chuyện về Tiểu Sơn, Lão Hoắc vừa vá quần cho đám trẻ vừa kể cho hai nàng. Vẻ mặt ông bình thản đến mức hai người suýt nghĩ Tiểu Sơn không phải con ruột ông.
Ngọn đèn dầu chập chờn, hai người liếc nhau – ai cũng không tin Lão Hoắc từng “giết rất nhiều người”.
Đường kim mũi chỉ lướt qua miếng vá một cách thành thạo. Làm việc tay chân – đúng là lúc thích hợp để kể chuyện dài.
“Bộ giáp đen trong mật thất là thứ ta từng mặc hồi trẻ.
Hồi đó thiên hạ đại loạn, các thế lực giao tranh, người sống kẻ chết. Ta giỏi bày binh bố trận và chế tạo ám khí, từng là chỉ huy một đội quân, đánh thắng không ít trận, tất nhiên cũng giết không ít người.
Nhưng chủ soái của ta cuối cùng không thành đại nghiệp, chết nơi đất khách, binh lính tan tác. Có người mời ta đầu quân, nhưng ta không phải hạng người ăn hai nhà, lòng nản chí, bèn đưa vợ về ẩn cư, sống cuộc đời bình dị tại Long Vỹ thôn.
Tuy nhiên, bản tính ta cẩn trọng, nên sớm đào mật thất này. Một là để cất bí kíp chế tạo cơ quan, hai là đề phòng kẻ thù tìm đến. Nhưng bao năm qua, kẻ thù ngày xưa có lẽ đã quên ta, hoặc chính họ cũng quên luôn thù hận… thời gian thật đáng sợ.
Vậy nên ta từng nghĩ cả nhà có thể sống yên ở Long Vỹ đến cuối đời. Nào ngờ vẫn không tránh khỏi vòng xoáy cũ. Giặc man tái xâm lấn, chiến hỏa lại nổi. Ta nay quá năm mươi, việc thường ngày là trồng rau, thu hoạch, sửa mái nhà… còn là nhặt những thanh kiếm gãy, đao vỡ, giáp rách từ mảnh đất hoang tàn này – những vật tàn dư của những kẻ từng liều mạng kháng chiến, mãi mãi không thể trở về. Với họ, chỉ có thể bị chôn vội trong hố đất tạm bợ – những vật này là phần thân thể cuối cùng họ để lại thế gian…
Tất cả… đều là những người không chịu lùi bước. Ta gom nhặt chúng, đặt cạnh chiến giáp của mình. Cảnh tượng ấy, như bạn cũ hội ngộ. Dù chết, vẫn còn tồn tại.”
Lão Hoắc kể chậm rãi như ông già lắm chuyện, nói mãi mà cái quần vẫn chưa vá xong. Ông thở dài: “Tiểu Lục như con khỉ, quần dày mấy cũng chẳng chịu nổi ba ngày. Nếu trời không lạnh, chắc nó đã tr**n tr**ng chạy khắp nơi rồi.”
Không ai ngạc nhiên, không ai chất vấn. Hai người chỉ lặng lẽ lắng nghe, tiện tay nhặt rau chuẩn bị bữa sáng.
Sau khi vá xong, Mạc Tiểu Vận bỗng hỏi: “Ông chưa từng nghĩ đến việc rời khỏi Long Vỹ sao?”
Lão Hoắc ngẩng đầu, nhìn qua ô cửa sổ đóng khung bóng đêm vô tận, mỉm cười: “Dưới gốc cây góc vườn, có Nguyệt Hà và Tiểu Sơn. Ta và Nguyệt Hà bái đường ở Long Vỹ, Tiểu Sơn cũng sinh ra đây. Quãng đời sau khi cởi bỏ chiến giáp của ta đều ở chốn này. Mảnh đất trước nhà trồng đầy hoa là do tay Nguyệt Hà vun trồng. Ta bảo đất này xấu, khó nuôi hoa yếu ớt. Bà ấy nói hoa nhà mình mệnh cứng. Ha ha, bà ấy lúc nào cũng cười tươi, chẳng lo gì. Ồ, hồi đầu nuôi gà, chẳng có kinh nghiệm gì, qua đêm gà chạy sạch. Cả làng đi tìm giúp. Vương Đại Tuyền lúc ấy còn là thằng nhóc ch** n**c mũi, suýt rớt xuống hố phân khi đuổi theo gà.
Thợ rèn khi chưa què, ngày nào cũng cười. Ngoài rèn sắt, còn mê mấy món cơ quan kỳ lạ. Có năm giao thừa, ông ta nhất quyết bắt mọi người xem ‘hoa sắt nở rộ’. Không biết nhét gì vào hộp sắt, đốt cả nửa ngày bằng đuốc. Hoa thì chẳng thấy, chỉ nghe “đùng” một tiếng, hộp nổ tung, khói lửa bốc khắp nơi, hun đen mặt bao người, đốt sạch bộ râu lão Trương nuôi nửa đời. Cả đám vừa hét vừa chạy, rồi quay lại đánh cho thợ rèn một trận, bảo ông ta sau này chỉ được rèn, đừng bày trò nữa, ha ha.
Còn nữa, mùa thu hoạch là cả làng rộn ràng mấy hôm. Trưởng thôn cầm đầu mang rượu ngon ra, người khác mang mấy món ngon hiếm hoi, cả làng tụ họp nơi bãi đất đầu thôn, dưới ánh trăng sao và đống lửa, ăn uống cười đùa. Trưởng thôn uống nhiều là lại hát. Giọng ông ta vừa thé vừa ồm như con lừa già, nghe khó chịu mà vui đáo để. Hát gì ta cũng quên rồi, hình như là… gió hiền nắng nhẹ, quốc thái dân an…”
Thời gian trôi nhanh thật. Những người thân quen, cảnh tượng quen thuộc, từ lúc nào đã biến mất khỏi thế gian.
Lão Hoắc chưa từng nói nhiều như thế với họ. Lặng im một hồi, Hà Đông Lai hỏi: “Còn bọn trẻ? Chúng cũng không rời đi sao? Hoa do Nguyệt Hà trồng mệnh cứng, nhưng tám đứa nhỏ này thì chưa chắc.”
Lão Hoắc cẩn thận gấp chiếc quần vừa vá, nói: “Ta cũng từng nghĩ. Nhưng không có ai để gửi gắm. Trước kia có người rời đi, ta định nhờ họ đưa mấy đứa nhỏ theo đến phương Nam, nhưng họ cũng miễn cưỡng. Không thể trách họ – sống sót đã khó. Hơn nữa, mấy đứa bướng, khóc lóc không chịu đi. Đành sống tới đâu hay tới đó vậy.”
Kết quả của việc “đi đến đâu tính đến đó”, là họ lại ở lại Long Vỹ thêm một thời gian.
Gần hai năm sống chung, đám trẻ đã xem họ như tỷ tỷ ruột.
Lửa chiến biên cương vẫn bùng lên từng đợt. Lũ xâm lược ngày càng ngang ngược, muốn cướp đoạt mọi thứ. Người trốn khỏi quê ngày một nhiều, từng mảnh đất yên bình lần lượt hoang phế. Rút lui đã thành cách duy nhất để sống.
Từ sau lần phản kích thành công của Lão Hoắc, lũ vô lại vừa ăn thua vừa sợ chết có lẽ đã e sợ những thứ thần bí dưới lòng đất, hoặc hiểu ra: nơi chẳng còn gì để vơ vét, không đáng liều mạng chỉ vì chút vui thú bắt nạt người.
Lão già cầm dao bếp ấy trông như tên điên chẳng sợ chết…
Tóm lại, một khoảng thời gian dài sau đó, chúng không quay lại.
Khi các khu vực khác lần lượt bị chiếm, bị đổi tên thành những cái tên mà lũ cướp thích, thôn Long Vỹ vẫn như con sói già đơn độc – tuy già yếu, không viện trợ, luôn đối mặt hiểm hoạ bị tiêu diệt, nhưng chưa từng lùi bước.
Chỉ là, người ở lại ngày càng ít. Đến đầu thu năm nay, ngay cả nhà Vương Đại Tuyền cũng rời đi.
Thực ra hắn muốn đưa Tiểu Bát đi cùng. Nhưng sức ông chỉ đến vậy.
Tiểu Bát lại cắn hắn một phát rồi chạy mất, ôm chặt chân Lão Hoắc, chết cũng không buông.
Nhìn bóng cả nhà Vương Đại Tuyền khuất nơi cuối đường, Hà Đông Lai tựa cửa thở dài, quay sang Mạc Tiểu Vận mỉm cười: “Chỉ còn nhà chúng ta thôi.”
Mạc Tiểu Vận gãi đầu, bỗng chồm lại thì thầm: “Hay là tìm cơ hội đánh ngất Lão Hoắc rồi đưa ông ấy đi?”
Hà Đông Lai suy nghĩ thật, nhưng vẫn lắc đầu. Không nói đến việc hai nàng có đánh ngất nổi ông không, cứ cho là được, thì sau đó làm gì?
Một ông già, tám đứa trẻ, nói chi đến người, ngay cả chín con gà thời buổi này cũng khó nuôi, huống hồ là người.
Huống hồ, họ còn nơi phải đến. Long Vỹ chỉ là điểm tạm dừng. Cuối cùng vẫn phải rời đi.
Vậy nên, mọi chuyện vẫn không có lời giải.
Nhưng nếu có thể sống yên ổn, lặng lẽ như thế, cũng không phải chuyện xấu.
Chỉ là không ai ngờ, số mệnh nhanh chóng cho họ hiểu: chỉ riêng hai chữ “bình yên”, với Lão Hoắc, đã là thứ xa xỉ.
Bước ngoặt, đến từ một kẻ lạ mặt.
Đúng là chuyện hiếm thấy – Lão Hoắc có khách đến thăm.
Ông gặp tên ăn mày ấy trên đường về thôn. Xoay đi xoay lại dung mạo trong đầu mấy lượt, mới nhận ra đó là bạn thời nhỏ của Tiểu Sơn – Lư Trung Dũng.
Nhà Lư Trung Dũng từng sống cách nhà họ vài căn, sau đó dọn đi. Hôm chia tay, Tiểu Sơn tặng hắn một con dao gỗ tự làm, hai đứa ôm nhau khóc sưng mũi.
Có lẽ trời động lòng, mấy năm sau lại cho họ gặp lại trong quân ngũ. Tiểu Sơn viết thư về nhà kể chuyện này, nét chữ đầy vui sướng. Lão Hoắc và vợ nghe vậy mừng lắm – thời chiến loạn, có thêm huynh đệ cùng chiến đấu là chuyện tốt.
Nhưng mối duyên nối lại ấy không kéo dài được bao lâu.
Lão Hoắc tưởng Lư Trung Dũng đã chết trong trận chiến sinh tử. Vậy nên khi thấy thanh niên tàn tạ sống sờ sờ trước mặt, ông bật khóc vì mừng. Nếu Tiểu Sơn còn sống, giờ chắc cũng cao ngang hắn.
Lư Trung Dũng cũng khóc không thành tiếng, quỳ trước mặt ông tự tát mình: “Tại con vô dụng, không bảo vệ được Tiểu Sơn…”
Lão Hoắc sao có thể trách? Ông chỉ lôi hết đồ ăn trong nhà ra, giục hắn mau ăn.
Lư Trung Dũng vừa ăn vừa kể: mình sống sót thế nào trong trận chiến, mấy năm nay lưu lạc ra sao, cơ duyên quay lại Long Vỹ. Ban đầu chỉ muốn ghé nhìn một cái rồi đi, không ngờ lại thấy Lão Hoắc vẫn còn ở đây.
Lời chân thành, Lão Hoắc nghe mà chua xót, bèn không ngừng gắp đồ ăn cho hắn.
Chỉ có Mạc Tiểu Vận là không ưa người này.
Vào bếp phụ nấu, nàng thì thầm với Hà Đông Lai: “Ánh mắt tên ăn mày kia không đứng đắn.”
“Ta bưng đồ ăn ra là hắn cứ len lén liếc ta.”
Hà Đông Lai nói nàng đa nghi. Người ta đói gần chết, còn lòng dạ đâu mà nhìn con gái?
Mạc Tiểu Vận hừ khẽ: “Tài quan sát con mồi ngươi hơn ta, nhưng nhìn người thì thua ta một bậc.”
Thực tế nhanh chóng chứng minh: cảm giác của Mạc Tiểu Vận không sai.
Rạng sáng hôm đó, họ bị trận ẩu đả dữ dội đánh thức. Chạy tới nhà kho, chỉ thấy Lão Hoắc gục trong vũng máu, ngực cắm một con dao găm chạm hoa văn kỳ dị, mặt vương bột phấn màu sắc quái dị.
Còn tên Lư Trung Dũng ban ngày khóc lóc kia, giờ đang giật chiếc vòng đồng trên nền đất.
Họ sững người tại chỗ.
Họ từng nghĩ, Lão Hoắc sẽ chết, hoặc vì già yếu, bệnh tật, hoặc liều mạng với kẻ địch.
Nhưng chẳng ai ngờ, ông lại chết trong một đêm không đề phòng, chết dưới tay người mà ông xem như con cái.
Nếu Lư Trung Dũng không lén dùng loại phấn gây bỏng mắt, hắn không đánh nổi Lão Hoắc.
Vấn đề là, trong đôi mắt không còn che giấu, thứ hắn nhắm đến – là mật thất.
Nhưng mật thất đó… ngoài đống sắt vụn thì có gì chứ?
Không có gì đáng giá. Hắn muốn gì?
Khi nhìn thấy họ, hắn không hoảng hốt, thậm chí còn nở nụ cười ph*ng đ*ng, hạ lưu. Lão Hoắc đã chết dưới tay hắn, hai cô nhóc thì làm được trò gì?
Nhưng hai cô nhóc ấy, thật sự lại có “pháp bảo”.
Hà Đông Lai ra tay trí mạng, con dao bếp quen tay không ít lần sượt qua đầu hắn. Dù sức không bằng, nhưng cơn giận dữ đã bù đắp tất cả.
Hắn không ngờ một cô gái gầy yếu lại dùng dao thành thạo, tàn nhẫn đến vậy. Không ngờ Hà Đông Lai từng giúp cha mổ thú, thật sự có thể một dao chém lìa đầu dã thú. Nếu công phu hắn không cao, e đã gãy tay, gãy chân từ lâu. Nhưng hắn tự tin sẽ thắng – vài chiêu nữa, thể lực Hà Đông Lai sẽ cạn, chắc chắn bại. Hắn thậm chí nghĩ, lát nữa giết cô bé mày thanh tú này cũng thật đáng tiếc.
Ban đầu, phán đoán không sai. Nhưng nếu hiện trường chỉ có mình Hà Đông Lai. Một làn bột mịn bất ngờ phun lên người hắn, mùi lạ theo khói bay lên, chui thẳng vào mũi. Ngứa ngáy đôi chút – đây là gì? Độc phấn gây hoa mắt? Trả thù nhanh vậy sao? Nhưng mắt hắn vẫn sáng, thậm chí còn thấy rõ Mạc Tiểu Vận – người đã tung bột – nhanh như mèo nhảy lùi, rồi nhân lúc hắn ngây người, kéo Hà Đông Lai lùi thêm vài bước.
Hừ, mấy con nhóc nhà Lão Hoắc thật ngây thơ. Chỉ với trò vặt thế này mà mơ đánh bại hắn? Đúng là muốn chết.
Khi hắn tràn đầy sát ý, cơn ngứa rát quái dị bỗng lan rộng khắp cơ thể – từ tóc đến tận ngón chân, đau ngứa tận tim gan, từng kinh mạch run rẩy. Hắn liếc xuống, hơi thở ngưng lại vì kinh hoàng: khắp người không biết từ khi nào phủ đầy sinh vật trong suốt, giống sâu non. Chúng điên cuồng chui vào thân thể – vài con đã thành công vào tay, vào mặt. Những con trên quần áo vẫn cắn xé không ngừng. Hắn gào thét nhảy dựng, điên loạn đập loạn xạ khắp người.
Hà Đông Lai lập tức xông lên định kết liễu, không ngờ hắn điên quá mạnh, đẩy nàng ra rồi phá cửa sổ chạy trốn.
Hà Đông Lai muốn đuổi, nhưng bị Mạc Tiểu Vận kéo lại. Nàng nói: “Đừng đuổi chó cùng rứt giậu.”
Đêm đó, họ thoát chết trong gang tấc. Nhưng Lão Hoắc thì không qua khỏi. Ngoài mắt bị bỏng nặng, con dao ngắn đâm ông cũng có độc.
Lão Hoắc từ chối đi khám. Đến thị trấn gần nhất mất một hai ngày, lại phải hai cô gái kéo xe. Nếu chết dọc đường thì càng phiền. Hai nàng không chịu, nhất quyết đưa đi. Nhưng ông gượng cười: “Độc này mạnh, không còn thuốc cứu. Nửa đời ta sống cùng ám khí, bẫy rập, không ít lần rắc độc lên vũ khí. Những chiến thắng không đường đường chính chính tuy ít, nhưng cũng có. Giờ chết nơi đây, chẳng oan. Các con đừng quá buồn. Chỉ là từ nay, tám đứa nhỏ kia xin giao cho hai ngươi – cũng là bất đắc dĩ. Mong hai con tận lực, vận mệnh khó lường, có sơ suất, cũng đừng tự trách.”
Nắm bàn tay càng lúc càng lạnh, lòng Hà Đông Lai như bị tảng đá chẹn lại. Giận dữ, đau buồn chìm sâu, không thể nhúc nhích. Trong đầu nàng hiện lên cảnh hai năm trước, Lão Hoắc tươi cười bưng hai bát canh nóng đến cho họ.
Mạc Tiểu Vận cố xoa tay ông, vừa làm vừa khóc nức nở.
“Lũ tiểu nhân chắc chắn sẽ quay lại. Các con mau rời khỏi đây, tuyệt đối đừng nghĩ đến báo thù – ta không cần. Hãy đặt ta lên sườn dốc cao nhất trước làng. Lúc các con rời đi, ta có thể nhìn thấy…”
“Các con nói trên đời có thật sự tồn tại ma quỷ không? Có thì hay quá… Ta sẽ biến thành con quỷ hung thần ác sát, canh giữ nơi này đêm ngày. Ai muốn đuổi ta đi, ta cứ không đi. Thôn Long Vỹ là nhà ta, không thể để người khác cướp… Các con gái à, cứ yên tâm rời đi, ta sẽ luôn ở đây…”
“Mùa đông phải nấu canh nóng, hoa sắp nở rồi, Nguyệt Hạ nói không được tưới nhiều nước… Tiểu Sơn lại đi bắt sâu rồi, thằng nhóc đó hôm nay vẫn chưa đọc sách… trời ạ, trưởng thôn lại đang hát nữa, giọng như con lừa ấy…”
Lời Lão Hoắc càng lúc càng lộn xộn. Gió thu lạnh lùng luồn qua cửa sổ, cuối cùng cuốn theo hơi thở cuối cùng của ông.
Mùa thu đúng là luôn khiến người ta buồn hơn bất cứ mùa nào khác.