28. Chương 28

Hồng Sương Ngưng Lệ - Tú Miêu thuộc thể loại Linh Dị, chương 28 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.

Thừa Huy theo chân một tiểu đồng, dọc theo hành lang bước vào trong đình. Vừa đặt chân vào cửa, liền cảm thấy một làn hương ngọt ngào, nồng ấm xộc vào mũi, khiến đầu óc như mụ mị đi, bên tai vẫn vang vọng tiếng “choang choang” ngân dài không dứt. Hắn định thần nhìn kỹ lại, thấy Tông Hải hóa trang bằng son phấn, vẽ mặt thành một thiếu nữ môi son má phấn, đang một tay nhón thế hoa lan, tay kia cầm khăn lụa, vòng ngang lưng, mắt liếc sang trái, eo lắc sang phải, rồi bóp mũi cất giọng hát:
“Lòng hoa nở, ong vờn bay,
Liễu uốn lượn, giọt sương rơi trên cánh mẫu đơn đầy.
Một người e thẹn, tình vừa run rẩy,
Khác nào Thần nữ nguyện với Tống vương nơi lầu mây,
Hồng nương đứng ngóng ngoài hiên cửa ấy,
Sương lạnh thấm ướt giày phượng ta đây.”
Thì ra chính là y tự mình lên sân khấu, vào vai Hồng nương trong vở Du viên kinh mộng.
Thừa Ngọc ngồi phía dưới trên một chiếc ghế đôn bọc gấm, nghe một đoạn hát thì uống một chén rượu. Trong phòng hương trầm tỏa ngào ngạt, hắn dứt khoát cởi phăng áo khoác ngoài, chỉ mặc độc chiếc áo lót bằng lụa trắng như trăng, để lộ lồng ngực trắng như tuyết. Gặp đoạn hát cao hứng, liền cười ngả nghiêng trên ghế đôn, đến nỗi rượu trong chén nghiêng đổ ra, thấm ướt cả vạt áo. A hoàn hầu bên cạnh bước lên định lau, hắn cũng chẳng né tránh, để mặc nàng lau chùi, rồi mới xoay người lại, thoáng thấy Thừa Huy, hắn liền gọi: “Nhị ca!”
Thừa Huy trước hết chào hỏi Tông Hải, rồi cũng ngồi xuống ghế đôn bọc gấm, tiện miệng hỏi: “Ta vừa nãy đi qua cầu, thấy có người mặc áo màu lam tro ngồi ở đầu cầu, không biết có phải khách quý của quý phủ không, sao lại một mình ngồi ở đó?”
Tông Hải hát xong một câu, mới phân tâm trả lời: “Khách quý gì chứ, chính là người lần trước từ Thủy Môn đến mượn binh của Dư Thiệu đó. Vì hắn không có dinh thự ở Kim Lăng, nên tạm trú tại phủ ta.”
Chén rượu trong tay Thừa Huy khựng lại giữa không trung, bật “ồ” một tiếng, ngạc nhiên hỏi: “Lần trước trông Đại công tử nhà các ngươi với hắn hình như chẳng mấy hòa thuận, hóa ra không phải sao?”
“Cũng là nể mặt chủ nhân của hắn thôi.”
Thừa Huy trong lòng thầm đoán xem “chủ nhân” ấy là ai, ngoài miệng chỉ ung dung nói: “Không rõ chuyến này hắn vâng mệnh làm việc, kết quả ra sao?”
“Nếu xong việc rồi, thì còn ở lì chỗ này làm gì?” Tông Hải cười hì hì, giọng điệu đắc ý, rồi hắng giọng, lại tiếp tục cất tiếng hát.
Trong lúc hai người trò chuyện, Thừa Ngọc đã bước đến cửa, dùng ngón tay vén rèm lên nhìn ra phía đầu cầu. Quả nhiên thấy Dư Thiệu một mình lẻ bóng ngồi đó. Ánh trăng treo xế, mây mù giăng giăng, bóng người in xuống đất mờ mịt khó phân biệt. Nhìn kỹ hồi lâu, mới thấy y đang cầm trong tay một thanh đoản đao cùng một cành trúc, gọt suốt nửa ngày, gọt ra vài chiếc nỏ nhỏ bằng trúc, nhét vào ống tên trong tay áo. Y ngẩng đầu nhìn bầu trời đêm, bỗng nhấn vào chốt, liền có một con chim sẻ bị bắn rơi. Dư Thiệu đứng dậy, dùng chân hất con chim vào hồ, rồi lại giương tên nhắm về phía tường phía đông vườn Tiêu, ngắm rất lâu, nhưng cuối cùng cũng không nhấn chốt, chỉ cụp mắt ngồi xuống, vẻ mặt đầy vẻ ủ ê.
Thừa Ngọc bất giác ngẩn người nhìn y rất lâu, chợt cảm thấy vai nặng trĩu, ngoảnh lại thì ra là cô a hoàn vừa rồi đang đắp một chiếc áo choàng lên vai hắn. Thừa Ngọc xoay người lại, nàng a hoàn ấy ngượng ngùng mỉm cười, nói khẽ: “Tam gia cẩn thận, nơi đây gió lớn.”
Thừa Ngọc đáp lời cảm tạ, buông rèm xuống, nghĩ ngợi giây lát, bỗng lạnh lùng bật cười một tiếng.
Tiếng cười ấy đột ngột vang lên, khiến Tông Hải đang hát bỗng ngừng tiếng, bật cười theo rồi vuốt cằm, nói với Thừa Ngọc: “Ta xem con a hoàn này hình như có ý với tam đệ, hay là để ta ban nàng cho ngươi, tối nay ngươi nghỉ lại ở Tịnh Tảo đường, để nàng hầu hạ, thế nào?”
Thừa Ngọc mỉm cười: “Quân tử không giành lấy sở thích của người khác, thôi miễn vậy.”
Tông Hải cố nài, nhưng Thừa Ngọc vẫn nhất mực từ chối, đành chịu thôi. Hắn chợt liếc mắt, quay sang Thừa Huy, nói: “Nhị gia, mấy hôm trước tam gia vội vã chạy đến tìm ta, nói Dư Thiệu để ý đến một vị tiểu thư trong quý phủ, nên nhờ ta ra mặt, khuyên hắn dứt bỏ ý niệm ấy, tam gia xưa nay chẳng mấy khi cầu xin ai, không biết vị muội muội kia có dung mạo thế nào mà khiến tam gia phải phá lệ như vậy?”
Lời này vừa khéo đánh trúng suy nghĩ Thừa Huy, y khẽ cười, nhìn Thừa Ngọc rồi trả lời úp mở: “Việc này… ta cũng chỉ biết một phần, chưa rõ tường tận.”
Dáng vẻ cố ý giấu giếm ấy làm Tông Hải thêm tò mò. Hắn liền ghé sát lại, ngồi bên Thừa Ngọc, vui vẻ nói: “Tam gia, nói cho ta biết đi, là vị nào thế? Mai này ta cũng đến quý phủ cầu hôn một phen!”
Thừa Ngọc ngay lập tức không vui, nghiêm mặt nói: “Thế tử, thường ngày ta tuy hay đùa cợt, nhưng cũng biết giữ chừng mực. Việc trong nhà ta, nói ra ở chốn này, e là không tiện.”
Tông Hải cũng không giận, vội vã nói: “Là ta đường đột với mỹ nhân rồi.”
Nghe đến hai chữ “mỹ nhân”, lông mày Thừa Ngọc càng nhíu chặt. Ký Nhu vốn là người đẹp, nhưng bị kẻ này nhắc tới kiểu đó, trong lòng chàng lại thấy có chút khó chịu. Thừa Ngọc chốc lát có phần hối hận vì đã kể chuyện ấy với gã. Một là thấy mình đem việc nhà bàn với kẻ phong lưu phóng đãng kia, thật là bất kính với người trong khuê các, hai là lại sợ gã sinh lòng hiếu kỳ, cứ bám lấy mà gặng hỏi không thôi. Hắn liền vội vã chuyển sang chuyện khác, hỏi: “Thế tử, vị Dư tướng quân ấy, rốt cuộc khi nào sẽ rời Kim Lăng?”
“Sau Tết Nguyên đán ấy mà.”
“Lâu thế sao?”
Thừa Ngọc trong giọng nói mang vẻ bất mãn, Tông Hải tất nhiên nghe ra. Y cùng Tam gia giao hảo lâu năm, còn chẳng đoán ra được ý trong lời ấy? Chắc chắn là liên quan đến vị “tiểu thư” kia. Y liền cười một trận, vỗ vai Thừa Ngọc trấn an: “Qua Tết là cũng nhanh thôi! Đến chính đán triều thần vào cung chúc mừng, các vương gia vào yết kiến, Lục Tông Viễn kế thừa tước vị Lương Vương, sao tránh khỏi chuyện phải vào cung lần này được? Chỉ tiếc là vương thúc còn chưa lạnh xác, hắn mà đến, thì đám hát hò trong phủ ta cũng đành ngưng hết. Ôi thôi, đêm đông dài dặc, biết lấy gì tiêu sầu cho khuây khỏa vậy chứ?!”
Sáng sớm hôm sau, một lời than thở vô tâm của Tề thế tử đêm trước, lại bất ngờ ứng nghiệm.
Khi ấy, Ký Nhu đang cùng Ức Phương ngồi trong phòng bàn chuyện dán câu đối ngày Tết, chợt nghe ngoài cửa vang lên một tràng tiếng bước chân gấp gáp “bịch bịch”, kế đó Vọng Nhi liền “rầm” một tiếng đẩy cửa xông vào, thở không ra hơi, hô lớn: “Cô nương, nguy rồi! Tam gia lại bị đánh nữa rồi!”
Ký Nhu cùng Ức Phương đều giật mình đứng dậy, Ức Phương lên tiếng trước, thất thanh hỏi: “Lần này lại vì chuyện gì nữa vậy?”
Vọng Nhi chau mày buồn bã đáp: “Nghe nói đêm qua tam gia, nhị gia cùng thế tử phủ bên cạnh tụ tập trong vườn Tiêu viên, lén gọi một đám kép hát, ca kỹ tới cùng uống rượu vui chơi. Không biết thế nào lại bị ngự sử dâng sớ tâu lên hoàng thượng. Hoàng thượng giận dữ, lập tức quở trách cả Khánh vương gia lẫn nhị lão gia nhà ta một trận. Còn phán rằng: ‘Không hiểu sao Tể tướng Từ, vốn là người thận trọng như thế, lại dạy ra một đứa con hồ đồ thế này!’… Nhị lão gia tức đến mức không vào triều, giữa trưa đã trở về phủ, đích thân bắt tam gia đánh cho một trận bằng roi, cuối cùng còn phạt tam gia phải theo nhị gia, cùng tới từ đường quỳ gối sám hối!”
Ký Nhu và Ức Phương đưa mắt nhìn nhau, lặng đi một lát, Ức Phương liền dậm chân một cái, rồi như cơn gió xoay người chạy xuống lầu.
Ký Nhu từ trên lầu nhìn xuống, trông thấy nàng chạy thẳng về phía tiền viện, bèn ngẩn người giây lát, sau đó chậm rãi ngồi xuống, chỉ là cây bút lông trong tay lại tựa như nặng cả vạn cân, không sao viết được nữa, đành nhúng vào nước sạch rửa qua, rồi treo lại trên giá bút.
Vọng Nhi đứng bên quan sát từng động tác của nàng, hỏi: “Cô nương không đi theo ư? Biết đâu còn khuyên được nhị lão gia, bảo ông ấy nương tay một chút.”
Ký Nhu đáp: “Không thân không thích, ta biết dùng lời lẽ gì để khuyên chứ?”
Vọng Nhi nghe vậy, cũng thấy phải, liền lẩm bẩm: “Tam gia lần này cũng là… đáng đời! Có lẽ nhờ vậy, bên phủ bên kia cũng được yên ổn một thời gian. Tối đến chúng ta cũng có thể ngủ yên một giấc rồi.”
Ký Nhu bật cười, trêu ghẹo: “Ngươi tối ngủ vẫn chưa yên à?”
Vọng Nhi đỏ mặt, cười ngượng vài tiếng, bỗng như chợt nhớ ra chuyện gì, vội chạy sang gian bên nhìn thử, thấy đám tiểu nha hoàn đều không có mặt, bèn quay trở lại, ghé sát tai Ký Nhu thì thầm: “Cô nương, nô tỳ vừa nghe được một chuyện lạ… Nói rằng bệnh của tiểu thư Niệm Tú dạo gần đây càng thêm trầm trọng, vốn chỉ là cảm lạnh, vậy mà uống liền mấy thang thuốc cũng không thấy đỡ chút nào… Sau đó mới là nha hoàn trong phòng đại phu nhân nhà họ Tú lỡ lời nói ra, rằng… do bên Thái Thường Tự truyền xuống, nói triều đình có lệnh, trong vòng ba tháng không được tổ chức cưới hỏi, thành thử ngày thành thân bị dời lại đến tận năm sau. Mà Tú Niệm tiểu thư năm nay đã gần hai mươi, thử hỏi còn đợi được bao lâu nữa?”
Ký Nhu nghe vậy, tim chợt thắt lại, trong lòng thầm kêu: không ổn rồi.
Vọng Nhi liền đứng thẳng người, vẻ già dặn, than rằng: “Nói là hoãn cưới, chẳng phải khác nào hủy hôn hay sao? Vậy thì tiểu thư Tú sau này biết phải làm sao đây?”
Ký Nhu lập tức thay một bộ áo váy giản dị, rồi sang viện của Niệm Tú.
Vừa bước đến cửa viện, đã thấy Thanh Lam ôm chiếc ghế đẩu ngồi dưới hiên, tay đang khâu một chiếc bịt tai bằng da chuột xám. Vừa thấy Ký Nhu đến, nàng liền buông việc xuống, đón từ xa, cười nói: “Không khéo rồi, tiểu thư nhà chúng tôi vừa uống thuốc xong thì ngủ mất rồi. Mời Nhu cô nương chờ đến buổi chiều hãy tới.”
Ký Nhu liếc mắt về phía phòng trong, thấy rèm gấm rủ thấp, cửa nẻo đóng kín, trong ấy không một tiếng động, quả thực chẳng rõ có thật đang ngủ hay không. Nàng cũng không ép, chỉ hỏi qua vài câu về bệnh tình, đoạn định từ biệt, vừa bước một bước, bỗng nghe rèm cửa lay động, phu nhân họ Hà từ trong bước ra, tay cầm một tấm thiếp mời.
Vừa thấy Ký Nhu, bà liền giấu thiếp vào tay áo, cười nói: “Ngủ được một lúc, nhưng cũng chẳng yên giấc là bao. Cô nương đã đến thì vào trong trò chuyện với nàng một chút đi.”
Thanh Lam hơi đỏ mặt, lí nhí nói: “Nhị cô nương mời vào.” Nói đoạn, liền dẫn Ký Nhu vào phòng.
Ký Nhu vừa bước vào, trong lòng thầm nghĩ: “Phu nhân họ Hà xưa nay sống kín đáo, nay lại có thiếp mời trong tay, e rằng là người nhà mẹ đẻ tới thăm. Mà chuyện hôn sự của Tú tỷ dạo này đã lan truyền đủ thứ đồn đãi, e là mối này hỏng mất rồi.”
Đang nghĩ ngợi, đã thấy Niệm Tú khoác một tấm áo dày, ngồi ngay mép giường, đầu tóc rối bời, chân trần không dép, gương mặt kia thì lặng lẽ một cách dị thường, quá đỗi bình thản, đến mức như chẳng còn chút sinh khí.
Ký Nhu cất tiếng gọi: “Tú tỷ tỷ.”
Niệm Tú đưa mắt nhìn, nở một nụ cười nhạt: “Muội muội.”
Rồi chống tay vào bàn ghế, từng bước một đi đến trước bàn trang điểm. Thanh Lam thấy nàng bước đi khó nhọc, liền vội đến đỡ lấy. Tú tỷ soi mình trong gương, nói: “Muội xem ta kìa, tóc tai rối bời, thật thất lễ quá.”
Nói xong liền sai Thanh Lam gọi thêm hai nha hoàn vào, người thì chải tóc, người thì đánh phấn. Không bao lâu sau, đã chải lại tóc tai, thoa mấy lượt phấn son, ngược lại càng toát vẻ kiều diễm yêu kiều hơn ngày thường.
Ký Nhu nhìn thấy cổ tay nàng gầy trơ, so với lần trước lại càng tiều tụy. Trong lòng càng chắc mẩm tin đồn hủy hôn là thật. Có điều không rõ khi nãy phu nhân họ Hà đã nói điều gì với nàng, chỉ trong chốc lát mà có thể gượng dậy, chịu gặp người. Ký Nhu trong lòng nghi ngại, song không nói ra, chỉ sai nha hoàn mở cửa sổ ra, mỉm cười nói: “Tỷ nằm nhiều như vậy, rất nên ra ngoài đi dạo một chút, hôm nay nắng đẹp lắm.”
Tú tỷ nheo mắt nhìn vầng nắng mỏng nhạt bên ngoài, chậm rãi nói: “Muội muội, giờ ta mới thực lòng khâm phục muội.”
Ký Nhu nhướng mày, hỏi: “Khâm phục điều gì ở muội?”
“Khâm phục muội từng rơi xuống bùn lầy, mà nay vẫn có thể ngày ngày điểm phấn tô son, ứng đối tiếp khách, không để lộ chút sa sút nào.”
Nét cười trên gương mặt Ký Nhu càng thêm nhạt, nàng liếc mắt nhìn quanh, phát hiện Thanh Lam chẳng rõ đã lui ra từ khi nào, đám nha hoàn cũng không thấy đâu, trong phòng chỉ còn hai người.
Trên án đầu giường là chiếc đồng hồ Tây dương nhỏ chạm vàng đặt nghiêng nghiêng, con lắc “tích tắc tích tắc” dao động không ngừng, tiết tấu chậm rãi khiến lòng nàng cũng theo đó mà dịu xuống.
Nàng khẽ vén tóc mai, mỉm cười đáp: “Muội phận mỏng manh, nào dám buông thả? Nếu chuyện gì cũng phải sống chết một phen, thì mười cái mạng cũng chẳng đủ. May là còn có vú nuôi và các nha hoàn ngày đêm chăm sóc, dù có khổ, cũng có người che chắn phía trước.”
Niệm Tú chỉ cười nhạt, hiển nhiên không để lời ấy vào lòng, song cũng chẳng buồn tranh luận. Lông mày, ánh mắt nàng vốn đã rất giống phu nhân họ Hà, nay lại mang vẻ trầm lặng vô hỷ vô bi, lại càng tăng thêm nét khó lường.
Ký Nhu ngồi một lúc, cảm thấy trong lòng chẳng mấy hứng thú, định đứng dậy từ biệt, song Niệm Tú đang buồn bực bấy lâu, nay thấy có người để giãi bày, đâu chịu buông tha, liền kéo tay nàng, ấn ngồi trở lại, nói: “Nãy giờ ta nói bừa, lỡ lời đắc tội rồi chăng? Ta xin nhận lỗi, được chưa?”
Ký Nhu đặt tay lên mu bàn tay nàng, như không hề mang thù hận, khẽ cười: “Tỷ tỷ vốn là người dịu dàng thấu hiểu, sao lại gọi là đắc tội được.”
“Là ta nghẹn uất quá lâu rồi. Kẻ sống nương nhờ người khác, dù xưa kia không dịu dàng, giờ cũng phải học dịu dàng. Muội tưởng ta muốn nán lại phủ Từ mãi sao? Cũng bởi mẹ ruột mất sớm, mẹ kế độc ác, chẳng còn đường nào, lại sợ bị người khác chiếm đoạt của hồi môn, đành phải trốn đến phủ Từ thôi.”
Niệm Tú một hơi nói ra hết mọi uất ức, cũng chẳng buồn để ý sắc mặt Ký Nhu ra sao, chỉ cảm thấy tay nàng lạnh buốt, bèn khẽ nắm lấy mà sưởi, chân thành nói: “Muội muội, dạo này đầu óc ta cũng rối loạn, nên mới nói năng bừa bãi nhưng câu ‘khâm phục muội’ ấy là thật lòng. Muội không biết đâu, hôm ấy ta vừa nghe tin Lương Vương gặp nạn, liền thấy trong lòng bất an, vì quá sợ hãi mà đổ bệnh. Nay linh cảm ứng nghiệm, ta trái lại lại thông suốt rồi. Nam nhân chí lớn, lòng ôm thiên hạ, chúng ta cũng chỉ là hạt bụi nhỏ bé, mà còn phải dè dặt từng li từng tí, chẳng phải bất công lắm sao? Ta nay đã cạn tình, bất kể là danh nghĩa hay lễ tiết gì, cái gì ta muốn, ta đều sẽ giành lấy, có thế mới mong thoát được thân phận hạt bụi ấy.”