39. Quảng Trị trong nỗi ám ảnh

Mưa đỏ

Quảng Trị trong nỗi ám ảnh

Mưa đỏ thuộc thể loại Linh Dị, chương 39 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.

Bầu trời Quảng Trị sáng nay không còn nhuốm sắc tím bầm của lửa đạn chiến tranh, nhưng mảnh đất này vẫn hoang tàn, đổ nát, thậm chí còn thêm phần hoang vu khi đặt bên cạnh khung cảnh yên bình của những ngày hòa bình đầu tiên. Thỉnh thoảng mới thấy vài bóng người dân lầm lũi trở về, đứng ngẩn ngơ rồi lại vội vã rời đi, như thể bầu không khí thanh bình này chỉ là giấc mộng thoáng qua, chốc lát nữa mọi thứ sẽ quay về với kinh hoàng như cũ.
Ám ảnh. Trong muôn vàn ám ảnh, nỗi ám ảnh về chiến tranh có lẽ là khủng khiếp nhất. Một nỗi ám ảnh xám xịt, sâu hoắm, day dứt, giày vò, quặn thắt, vỡ vụn, chắc còn lâu lắm mới có thể nguôi ngoai trên mảnh đất này, trong tâm hồn người dân nơi đây.
Dòng Thạch Hãn dưới kia vẫn êm đềm trôi, nước trong vắt đến vô cùng, vô cảm. Ngàn năm qua, nó vẫn luôn trong xanh, êm đềm như thế, chưa từng chứng kiến những ngày quằn quại, rướm máu khi phải hứng chịu hàng chục ngàn, trăm ngàn sinh linh bầm dập.
Giữa khung cảnh trái ngang ấy, một chiếc xe u oát bụi đỏ ì ạch chạy từ xa, rẽ vào, từ từ băng qua cây cầu sắt gãy nát bắc qua sông vừa được dựng tạm rồi dừng lại bên bờ nam.
Từ trong xe, ba người bước xuống: một đàn ông, hai đàn bà. Dưới ánh nắng buổi sáng, người ta nhận ra chàng trai mặc quân phục, đeo lon thiếu úy còn trẻ là Tấn, cậu lính đội viên sống sót duy nhất của đại đội bảo vệ Thành cổ năm nào. Còn hai người phụ nữ kia, một là bà mẹ của Cường, một là Xã đội trưởng Hồng. Cô sinh viên xã đội giờ trông rắn rỏi, xinh đẹp hơn, còn bà mẹ thì tóc bạc phơ nhiều hơn.
Cả ba lặng lẽ bước về phía Thành cổ, nơi giờ vẫn chưa có một ngọn cỏ nào mọc lên giữa đống gạch đá hoang tàn. Họ nhìn xuống mặt sông ánh bạc.
- Nó hy sinh ở khúc sông này phải không...
Tiếng người mẹ buồn như tiếng gió thổi trong mưa.
Cô gái không nói, chỉ khẽ gật đầu.
- Nó được nhắm mắt trong lòng cháu... như thế cũng đỡ cô đơn.
Cô gái môi mím chặt, nhưng vẫn bật ra một tiếng nấc nhẹ: - Dạ... Trước khi nhắm mắt, anh còn gọi bác.
Toàn thân người mẹ chợt chênh chao như gặp cơn gió lạnh. Bà ngồi xuống, gầy guộc, nhỏ bé, già nua. Trong tâm trí bà, xen lẫn cảnh sắc xôn xao, bỗng vang lên khúc giao hưởng thân yêu từng nghe ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Khúc nhạc ấy đang quẫy lộng, biến dòng nước dưới kia thành màu đỏ ngầu, sôi sục...
Mắt người mẹ nhòa đi, nhưng giọt nước mắt vẫn khô quánh, không chảy ra nổi, hay đã cạn kiệt suốt những ngày qua rồi.
Bà sẽ cứ ngồi như thế, như bức tượng đài mất mát vĩnh cửu nếu cô gái không nhẹ nhàng đỡ bà đứng dậy, dìu bà đi từng bước chầm chậm vào khu Thành cổ.
Khu thành đã được trung tâm bảo tàng chiến tranh tỉnh vội vã dọn dẹp, gợi lại những nét kiến trúc cơ bản để du khách có thể hình dung về hình hài ban đầu, nhưng mới chỉ tạm sửa sang xong đài tưởng niệm và gian bảo tàng kỷ vật để kịp đón khách thập phương đến thăm viếng, thắp hương. Cả nơi đây vẫn còn ngổn ngang, xơ xác lắm. Đến nỗi mỗi bước chân bà đều cảm thấy nhớp nháp khi giẫm lên những mảnh kim loại lạnh nhọn sắc, như vẫn còn nóng bỏng cắm sâu vào đất cát.
Và giờ đây, giữa Thành cổ hoang tàn, bà mẹ cảm thấy như đang đặt chân lên chính xương thịt của đứa con mình. Một thoáng rùng mình, bà thảng thốt: - Các con ơi... chỉ cho bác chỗ thằng Cường và đồng đội của nó đã chiến đấu...
Tấn bước lên, dìu bà đi về phía hầm tiểu đội năm xưa của mình.
Nơi đây không còn dấu vết gì nữa. Tất cả niềm vui, khát vọng, căm hờn, cái chết... năm xưa giờ chỉ còn lại một hố trũng sâu, nơi những ngọn cỏ non đang rung rinh trước gió.
Bà đứng ngẩn người, mắt mở to như muốn hỏi đất: “Đâu, con tôi đâu... Cường ơi, con ở đâu?... Mẹ đang bên cạnh con đây...” Tiếng Tấn vọng nhẹ bên tai: “Những lúc không đánh nhau, anh Cường thường nhìn lên trời lâu lắm bác ạ!... Sau này chúng cháu mới biết anh ấy đang viết thầm những nốt nhạc trong đầu...”
Hai người trẻ dìu người mẹ đi về phía đài tưởng niệm liệt sĩ, giờ đây chói chang dưới nắng sớm. Đài mới chỉ phác thảo sơ sài nhưng vẫn toát lên linh hồn, cốt cách. Trong bàn tay run run của mẹ, những nén hương được thắp lên. Khói hương bay bảng lảng, tan vào cảnh vật xa dần như những linh hồn tử sĩ bay về trời đất, rồi dừng lại, quẩn quanh bên bức phù điêu tưởng niệm các liệt sĩ sinh viên cạnh đó, như chẳng muốn bay đi đâu nữa.
Thành kính và lặng lẽ, họ đến thắp hương trên đài tưởng niệm, trên những nấm mồ liệt sĩ hữu danh và vô danh xung quanh. Họ đi quanh bức tường thành, lặng nghe Tấn vừa chỉ vừa nói gì đó, chỉ thấy đôi mắt người mẹ mờ dần đi trong giai điệu bài hát “Cỏ non Thành cổ” thoảng buồn vang lên từ chiếc loa treo nơi đầu cổng...
Họ bước vào phòng bảo tàng hai gian, mái ngói sơ sài như phác thảo tạm. Nắng chiếu qua cửa sổ soi tỏ những bức ảnh sống động của người nhiếp ảnh gia quân đội, soi tỏ cả những bức ký họa đen trắng nhưng lại như rực lên màu máu của Bình được treo trang trọng trên tường. Nổi bật giữa đó là những khuôn mặt trẻ trung, tươi sáng của tiểu đội anh hùng: Tạ, Sen, Tú, Hải, Bình, Tấn và... Cường. Người mẹ nhìn sâu vào khuôn mặt bụi bặm, phong trần của đứa con, nước mắt không chảy ra được nữa, trống trải, hoang tàn... Bà ngồi sụp xuống, kiệt sức... Những ngón tay cô gái nắm chặt lấy bàn tay bà mẹ...
Trời đã về chiều.
Chiều Quảng Trị vẫn còn vương vấn cái ngột ngạt, nhớp nháp mùi tử thi như những buổi chiều bom đạn năm nào. Hơi hướng chiến tranh liệu bao giờ mới tan biến hẳn trên mảnh đất này đây? Hồng ngước nhìn trời xanh, như muốn hỏi câu hỏi nhức nhối ấy.
Họ chầm chậm đi trở lại bờ sông. Dòng Thạch Hãn vẫn trôi chảy hiền hòa, chậm rãi, dù có cố hình dung cũng không thể nào tái hiện ký ức về khúc sông khốc liệt, đẫm máu nhất trong suốt cuộc chiến dài dằng dặc của dân tộc. Xa xa, cây cầu sắt gầy guộc bắc qua sông, vắt qua nấm mồ khổng lồ đang chìm sâu trong lòng nước im lặng.
Đến cái bến nước mà lính hôm qua thường gọi là Bến Vượt, người mẹ nhận từ tay cô gái mấy nhánh hoa, cúi xuống khẽ thả vào mặt nước. Mặt nước nhẹ nhàng đón lấy, cuộn mình tạo nên những con sóng như đưa, như ru đẩy chúng ra xa. Những nhánh hoa trôi đi... trôi đi... trôi mãi ra cửa biển như trôi về miền vô định. Ở đó, có bóng một cô gái chèo đò xuôi dòng, vận chiếc bà ba đen, quấn khăn rằn nổi lên thật mềm dưới ráng chiều, tiếng bài chèo mơn man khoét sâu vào lòng nước, đẹp siêu thực như bức tranh lụa tạc vào không gian không có thật. Những câu thơ viết bằng máu của chiến sĩ Thành cổ bỗng bay lên, thoảng nghe như tiếng sóng, tiếng gió, như lời ru à ơi của mẹ lại không hề phi thực chút nào... “Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ / Đáy sông còn đó bạn tôi nằm...”
Bên tai bà vang lên tiếng Tấn: - Bác ơi... Đáy sông không chỉ có đồng đội bọn cháu nằm đâu, mà còn có cả lính phía bên kia nữa, nhiều lắm!
Bà mẹ im lặng, chỉ khẽ gật đầu.
Bóng chiều đang chùng chình trườn lên phía cửa biển. Không còn nhiều thời gian nữa, chiếc u oát phóng nhanh đưa họ đến một nghĩa trang khuất lẻ giữa cánh đồng, sau rặng phi lao chưa kịp lấy lại màu xanh. Nghĩa trang, nơi an nghỉ vĩnh hằng của thế giới người âm, nao buồn như mọi nghĩa trang khác, nhưng sao ở đây lại cô độc, lẻ loi, tội nghiệp đến thế! Như một nghĩa địa bị bỏ rơi.
Bà mẹ đi tới góc trong cùng của nghĩa địa rồi dừng lại trước một nấm mồ phủ cỏ, bia mộ ghi hàng chữ mờ nhạt: “Nguyễn Văn Quang. Quê quán Quảng Trị. Sinh ngày... Mất ngày 16 tháng 9 năm 1972.” Bên cạnh là một người đàn bà đang lặng lẽ nhổ cỏ, tỉa hoa. Thấy người lạ, bà giật mình nhìn lên. Đó là khuôn mặt buồn buồn, nhăn nheo vì thời gian và cả đau khổ, mất mát của người mẹ từng quyền quý của Đại úy Quang.
Hai bà mẹ nhìn nhau giây lát như thấu hiểu và cũng như chưa kịp hiểu gì, rồi người mẹ của Cường đi đến, cầm trên tay ba nén hương cô gái đưa cho, lặng lẽ ngồi xuống: - Chị cho phép tôi thắp một nén hương lên mộ cháu...
Câu nói ấy khiến người mẹ của Quang khẽ rùng mình đứng dậy, run run chắp hai bàn tay trước ngực, hơi cúi xuống như cử chỉ biết ơn, cảm kích rồi đứng lặng, rưng rưng nước mắt...
Dưới kia, dòng Thạch Hãn vẫn êm đềm trôi, như khúc hát ru đưa con người vào miền cảm xúc thánh thiện, giản dị, tinh khiết và vô tận...
Viết tại các nhà sáng tác: Nha Trang - Đà Lạt - Tam Đảo, thu 2015