Năm Ấy Phòng Tối Gặp Trăng Sáng
Chương 5: Thoát ngục, gặp sơn phỉ và ba năm quân ngũ
Năm Ấy Phòng Tối Gặp Trăng Sáng thuộc thể loại Linh Dị, chương 5 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.
Kinh thành hỗn loạn.
Bọn nha dịch đeo đao, kỵ binh đeo thương, Thần Cơ doanh cầm nỏ, đều đang chạy đến pháp đài.
Tôi xé bỏ áo tù trên người, nằm rạp trên lưng ngựa, mặc cho gió rít bên tai.
Vài sợi dây thừng giăng ngang, chắn ngựa trước cổng thành hiện ra trước mắt, những mũi nhọn tua tủa như chực xuyên qua người tôi.
Tôi ôm chặt cổ ngựa, kẹp chặt bụng nó, giọng run run nói: “Ngựa tốt của tao – nhảy! Nhảy càng cao càng tốt!”
Tuấn mã dưới thân dậm mạnh bốn vó, phóng vút qua dây cản ngựa.
Trước mắt chợt tối rồi lại sáng, hoàn hồn lại, tôi cùng ngựa đã xông khỏi hành lang dưới cổng thành, vượt qua sông hộ thành, phía trước là con đường lớn.
Ngựa tung bốn vó, càng phi càng hăng hái.
Hai bên đường lớn là cỏ úa cây xanh, trong rừng có khe nước róc rách, chim chóc hót vang.
Ánh mặt trời đã lâu không thấy chói mắt đến mức tôi không ngừng rơi lệ, nhưng lại chẳng nỡ nhắm mắt.
Khi ở trong ngục, tôi không dám tò mò về thế giới bên ngoài.
Chẳng dám nảy sinh bất kỳ mơ tưởng nào, chỉ sợ sự lặp lại của bóng tối mỗi ngày sẽ khiến bản thân phát điên.
Suốt năm tháng dài đằng đẵng, lồng ngực như bị nén một hơi thở lớn, giờ đây cuối cùng cũng có thể thoải mái hít thở giữa chốn đồng hoang.
“Ta tự do rồi! Hahaha!”
“Ô hô!”
“Ú hú!”
Tôi cưỡi trên ngựa, ngửa cổ mà cười, lại hét hò quái dị.
Âm thanh ấy như lan truyền vào vạn vật thiên nhiên, trong rừng rậm hai bên vọng lại tiếng vang dội.
“Ú hú!” “Ú hú!” “Ú hú!” không dứt bên tai.
Nụ cười trên mặt tôi đông cứng lại, chợt cảm thấy không ổn.
Chưa từng nghe nói tiếng vọng lại còn biến điệu bao giờ?
Trong rừng rậm bên trái lộ ra một cái, hai cái, ba bốn năm cái đầu người…
Sau đống cỏ bên phải lại lộ ra sáu cái, bảy cái, tám chín mười cái đầu…
Đầu người chen chúc ló ra từ bụi rậm, thoạt nhìn cũng phải hơn mấy chục tên!
Ai nấy đầu quấn vải xám, tay cầm cung nát đao rỉ, mình mặc vải thô rách nát, chân đi giày cỏ xiêu vẹo.
Tôi bị cả đám người chặn lại, ngã xuống đất, hoảng hốt ngước nhìn, thấy trên lá cờ lớn trước mặt, rõ ràng thêu một chữ “Phỉ”.
Trời ơi đất hỡi, ông trời chết tiệt!
Không ai nói cho tôi biết rằng thoát khỏi kinh thành lại đụng ngay phải bọn sơn phỉ!
“Đại vương, cổng thành đã phá nhưng chẳng biết cớ sao trong thành chỗ nào cũng cháy, chúng ta còn vào nữa không?”
Tên “đại vương” cưỡi ngựa, môi dán râu giả để giả làm ông già, nhìn kỹ thì mới chỉ ngoài đôi mươi.
Hắn liếc mắt âm trầm: “Chắc là lại có kẻ tạo phản trong kinh rồi! Chúng ta vào thành chẳng cướp được gì, lại còn làm bia ngắm tên, huynh đệ, rút thôi –!”
Tôi giận đến nỗi suýt thì một Phật xuất thế, hai Phật thăng thiên!
Sự tự do mà ta đây ngày đêm mong mỏi, đau khổ trông chờ suốt năm tháng trời.
Mà chỉ trong năm phút đã mất sạch!
*
Tên đầu lĩnh sơn phỉ kia họ Phương, mang theo mấy chục thổ phỉ kéo ùn ùn từ Cam Túc tới. Lúc quay về, nghe tin Kiêu Kỵ Đại tướng quân đang dẫn đại quân vượt ngàn dặm thần tốc tiến về kinh sư, chúng đành phải vòng sang Đông Bắc để tạm lánh.
Khi đến Sơn Hải Quan, chưa kịp chỉnh đốn nghỉ ngơi thì lại gặp chiến sự phương Bắc, bị trấn Liêu Đông cưỡng ép sung quân, từ đó lăn lộn thành quân chính quy.
Dọc đường đi, thiên tai, nhân họa, nạn đói, loạn binh, thổ phỉ, dân chạy nạn chẳng dứt ngày nào.
Tôi tựa như một con châu chấu bị buộc dây nơi cổ, vận mệnh giày vò khiến tôi muốn sống không được, muốn chết cũng chẳng xong.
Gặp không ít kẻ xấu, cũng gặp được rất nhiều người tốt.
Tiếng cười lẫn nước mắt đều nén vào lòng, con người cũng trở nên khoáng đạt hơn phần nào.
Thoáng cái đã ba năm trôi qua.
······
“Cầu thúc, thêm cho hai bát mì đại đao nữa!”
Loại mì này là tuyệt kỹ trong doanh trại chúng tôi. Mì được nhào với nước tro tàu, chồng từng lớp lên nhau dày độ nửa tấc, phải dùng một thanh đại đao dài ba thước, nặng ba mươi cân mới cắt nổi.
Lại rưới thêm một muỗng nước thịt bằm, ôi chao, đừng nói là thơm đến cỡ nào.
Không phải đàn ông cường tráng thì không nhào nổi mẻ bột này, cũng chẳng cầm nổi thanh đao ấy. Người bếp binh mình trần đẫm mồ hôi, hơi nước từ phòng bếp xông thẳng ra ngoài, phả vào mặt tôi khiến tôi nheo mắt thỏa mãn.
Một bầy binh sĩ bưng bát chen chúc quanh bàn tôi, vểnh tai nghe tôi tán gẫu.
Dù sao thì đại doanh của chủ tướng cũng cấm người ra vào nếu không có lệnh, chỉ có y quan là tôi mới được tự do đi lại.
À đúng rồi, suýt nữa quên nói, hiện tại tôi cũng có chút tiền đồ, đã làm đến chức y quan rồi đấy.
“Mì đến rồi đây!”
Cầu thúc bưng hai bát mì lại. Tôi liếc nhìn, đã rưới thịt bằm, còn cắt thêm một vòng thịt lừa luộc.
Thơm đến mức khiến tôi mê mẩn cả đầu óc.
“Tinh nương tử, đám tù binh bắt được hôm kia đã chữa khỏi hết rồi à?”
Tôi đáp: “Chữa đến nửa sống nửa chết vậy thôi. Tướng quân không cho ta dùng thuốc cho bọn chúng. Thuốc trong doanh không nhiều, phải ưu tiên dùng cho người của mình.”
Trên bàn có tiểu binh cảm khái: “Chiến sự chẳng biết khi nào mới kết thúc, lại sắp sang đông rồi. Đông năm ngoái có không ít người chết rét, đến nay còn chưa phát tiền trợ cấp nữa.”
Thấy bầu không khí chùng xuống, tôi vội nói: “Tiền trợ cấp nhất định sẽ được bù. Tướng quân nói triều đình đã có bạc, tháng này sẽ chuyển lượng lớn lương thực, gạo mì, dầu mỡ, thịt cá đến để chúng ta có một cái Tết đàng hoàng!”
“Thật thế sao!”
Phương Tiểu tướng quân quát: “Lời Tinh tỷ của ta nói thì như đóng đinh bằng nước miếng, sao lại là giả được!”
Mọi người cười vang.
Sợi mì dai dẻo nhưng nước thịt thì mặn, tôi thêm hai muỗng nước mì mới nuốt nổi, hơi nóng trong bát khiến mắt tôi mờ lệ.
Nơi đây là trấn Liêu Đông, một trong chín trấn biên quan trọng yếu của triều Thịnh, phía Đông giáp sông Áp Lục, phía Tây nối Sơn Hải Quan.
Năm ấy, tiên đế chết bất đắc kỳ tử, triều cục rung chuyển. Tộc man rợ Thát Đát phương Bắc nghe tin thì tích góp trọng binh, liên tiếp xông qua quan ải.
Bốn mươi ngàn lão binh đóng lâu năm ở Liêu Đông gần như chết sạch.
Chúng tôi sau này đều là lính bị trưng thu từ sáu tỉnh phương Bắc. Gặp buổi loạn thế, quân chính quy chẳng còn bao nhiêu, bọn sơn phỉ bị ép nhập ngũ, bọn thổ phỉ, dân tị nạn, tù trọng tội bị đày đều trộn chung một doanh.
Hai năm luyện binh chinh chiến mới dần mang dáng dấp của “quân”.
Nhờ từng đọc sách, biết chữ, biết tính toán, chẳng bao lâu tôi đã thành người được Tướng quân trọng dụng.
Lại nhờ thời gian trị thương cho Hựu Niên mà mày mò ra được ít kiến thức băng bó ngoại thương, được điều vào y doanh, xem như có chân trong biên chế. Nhưng từ đó đã không còn tin tức gì của Hựu Niên nữa.
Nghe nói phế Thái tử liên thủ cùng thế gia, đoạt lại đế vị.
Nghe nói gian đảng làm loạn cùng hoạn quan cuỗm đi tám triệu lượng bạc trắng trong quốc khố, chạy trốn về phương Nam. Bạc vung vãi khắp nơi khiến giá lương thực loạn lên, không ít dân chúng hóa thành lưu dân, nhiều lưu dân thành thổ phỉ.
Tướng quân dẫn tôi tiến vào nội quan thu gom lương thảo, cũng che chở cho bách tính một phương.
Trận hành hình chấn động năm ấy đã chẳng để lại dấu vết gì giữa thời thế hỗn loạn, thậm chí chẳng ai biết nó từng xảy ra.
Mỗi lần gặp thương nhân đến từ kinh thành, tôi đều chạy tới hỏi:
- Có nghe nói đến vị Thế tử có tên chữ là “Hựu Niên” không?
Song dân chúng thấp cổ bé họng làm sao biết được tên chữ của hoàng tộc?
“Là vị Thế tử từng vào ngục thiên lao đó!” Tôi cuống quýt nói.
Thương nhân lắc đầu: “Riêng kinh thành đã có hơn mười thân vương, tân đế vừa đăng cơ đã phong thưởng khắp nơi, lại phong thêm tám vị Vương khác họ. Các vị Vương gia ấy ai chẳng trung thành tuyệt đối, người nào chẳng từng được cứu ra từ ngục thiên lao?”
“Còn về các vị Thế tử, kẻ sống, người chết, kẻ bị phế truất tranh đoạt đế vị, bốn bàn tay cũng đếm không hết.”
“Thiên hạ bốn phương đều đang loạn, khắp nơi khởi nghĩa, khắp nơi có người chết. Giặc cỏ cướp đường, thổ phỉ vơ của, quan phủ chiếm đất. Dân chúng cầm cuốc kết bè, lấy chuyện khởi nghĩa làm vinh.”
“Có một bài đồng dao truyền khắp thiên hạ, ngươi đoán xem là gì – “Hoàng đế thay phiên nhau làm, năm nay đến lượt nhà ta”!”
“Lúc này cần người hơn bao giờ hết, bệ hạ tay trái chân phải đều khốn đốn, những vương tôn còn sống đều đã lĩnh binh đi trấn áp phản quân, bình định thổ phỉ rồi.”
Tôi đờ đẫn nhìn cát vàng nơi quan nội.
Xưa nay tôi chẳng hiểu, cớ sao thi nhân xưa viết thơ biệt ly lại sầu thảm đến thế?
Thì ra có những người, chỉ một lần quay lưng, lần gặp lại đã không biết là kiếp nào.
Đôi tay tôi mỏng, thân xác yếu ớt, chẳng có lấy chút gan dạ để đi lại giữa buổi loạn thế, được quân doanh che chở, có cơm ăn nước uống đã là phúc lớn.
Tôi quỳ gối lạy ánh trăng một cái.
Hựu Niên à.
Nơi xa cầu mong chàng vạn sự bình an.
Bên cạnh, Phương Tiểu tướng tựa lan can, cười hừ: “Là ai suốt ngày miệng nói “chẳng tin thần Phật”, sao lại lạy trăng vậy?”
“Cầu cho ai vậy? Tình lang của tỷ à?”
Tôi cười, đấm một quyền vào vai hắn rồi mở nắp vò rượu, uống một ngụm, say thêm một chút.
Ngẩng đầu nhìn sao trời, lẩm bẩm: “Là một người vô cùng tốt.”
Phương Thế Hữu cười khẽ: “Còn “vô cùng tốt” nữa cơ à? Trong mắt tỷ chẳng có lấy một người xấu nào!”
Bọn huynh đệ gác đêm xung quanh đều cười vang.
Nghĩ lại cũng lạ, một đám sơn phỉ năm xưa nay đều đã thành huynh đệ chung hoạn nạn.
Tên đại vương sơn phỉ năm ấy bắt cóc tôi chính là Phương Thế Hữu này. Nhờ có võ nghệ cao cường, hắn thăng chức còn nhanh hơn tôi, đã là Tiểu tướng quân ngũ phẩm rồi.
*
Bọn Thát Đát nhiều phen xâm phạm biên giới đều bị chúng tôi đánh cho đại bại. Từ sau trận tuyết đầu mùa đông năm nay, rốt cuộc chúng mới chịu thu binh, ngừng chiến.
Mùa đông năm ấy giá lạnh khôn cùng, trâu bò chết rét, binh sĩ bị cóng đến thương tích.
Phương Tướng quân sốt ruột thúc giục chúng tôi mau chóng xây tường cho chuồng ngựa chiến.
Nghe nói bọn Thát Đát muốn nghị hòa, lấy thịt súc vật đổi lấy muối gạo.
Triều đình chẳng thèm đoái hoài, trái lại còn mở rộng quốc khố bổ sung quân phí, lại phái thêm Tuần phủ sứ đến thăm hỏi tướng sĩ, đưa đến áo bông, gạo thóc, thịt mỡ kịp lúc trước thềm năm mới.
“Báo —!”
“Tuần phủ sứ đã đến cửa ải phía Nam!”
Đoàn Tuần phủ kéo dài dằng dặc hơn mười dặm, ba ngàn xe la chở đầy lễ vật năm mới lăn bánh in thành rãnh sâu trên mặt đất.
Đại tướng quân dẫn chúng tôi ra khỏi thành nghênh đón.
Thấy từng xe từng xe chất đầy heo sống, dê sống bị trói chân, ai nấy đều mừng rỡ vô cùng.
Chính giữa đoàn Tuần phủ là mấy cỗ xe ngựa, các vị đại nhân lần lượt bước xuống xe, chào hỏi, hàn huyên với Đại tướng quân.
Duy có một cỗ xe, vị đại nhân trên đó chậm chạp chẳng chịu xuống.
Vị đại quan kia đã cúi người chuẩn bị bước xuống xe nhưng chẳng hiểu sao cứ như bị điểm huyệt, ngây ngẩn nhìn về phía chúng tôi, mặc cho tuyết lông ngỗng phủ trắng toàn thân.
Tuần phủ sứ kinh ngạc, khẽ gọi:
“Thân thể Thừa tướng bất an sao? Hạ quan đỡ ngài xuống xe nhé?”
Hầy, Thừa tướng, quả là chức lớn.
Chúng tôi là đám tiểu tốt không phẩm hàm, bèn vội vã lùi lại, sợ mùi hôi tanh của phân lợn, nước đái trên người sẽ mạo phạm đến quý nhân.
Tôi vừa mới lui khỏi đám đông thì đã nghe sau lưng rộ lên tiếng ồn ào.
“Ôi chao Thừa tướng đại nhân, ngài làm sao vậy?”
“Mau gọi Thái y!”
Phương Thế Hữu ngoảnh đầu nhìn thoáng qua, bỗng bật cười: “Quan lớn thật đấy, chẳng khác gì chưa từng xuống xe, giẫm hụt chân té cái bẹp.”
Tôi lập tức trừng hắn: “Nhỏ tiếng thôi, đệ bị lộ rồi đó — Mau đi, ta còn phải giết lợn băm nhân gói bánh nữa kìa.”
Bước chân hối hả, trong cơn hỗn loạn như nghe thấy ai đó khàn giọng gọi: “Tiểu Ngư”.
Tôi xoa xoa tai, đưa mắt nhìn quanh, lại chẳng nghe thấy tiếng nào nữa.
*
Vị Thừa tướng kia tâm địa gian xảo.
Chiều hôm ấy, Đại tướng quân lệnh cho toàn bộ phụ nữ trong quân rửa mặt chải đầu, thay xiêm y sạch sẽ, đến doanh trướng chủ soái diện kiến.
“Da mặt dày thật đấy, định chọn giường hầu hạ à!”
“Mấy tên quan kinh thành này chẳng có tên nào ra gì, đêm đầu vừa đến đã đòi tìm kỹ nữ rồi.”
“Tinh tỷ tỷ có đi không?”
Tôi đang cầm đĩa dấm, đang ăn từng cái sủi cảo một cách ngon lành, nghe vậy cười đáp: “Ta đi làm gì? Người ta tìm mỹ nhân, còn ta mặt to eo thô, tay vụng chân lóng ngóng, chẳng hầu hạ được đâu, ha ha ha.”
Một bàn các cô gái cùng phá lên cười.
Chúng tôi trốn trong phòng ăn sủi cảo, mười mấy người vốn bị sai đến trướng chủ soái nay bặt tăm không đến. Đại tướng quân của chúng tôi là người thấu tình đạt lý, lại hay bao che khuyết điểm, bèn mắt nhắm mắt mở cho qua chuyện.
Nghe nói cú ngã của Thừa tướng hôm nọ không nhẹ, là ngã từ trên xe ngựa xuống.
Tính tình người này cổ quái, chẳng lo dưỡng thương, trái lại mỗi ngày đều khoác áo lông hạc ngồi trước trướng chủ soái, ngẩn người nhìn từng người ra vào trướng.
Lạnh đến nỗi mặt mày tay chân đỏ ửng mà vẫn không chịu rời đi.
Tướng quân chẳng còn cách nào bèn dựng cho hắn một cái mái chắn gió, khi có nắng thì để yên cho ngồi đó, gió lớn tuyết dày thì sai người khiêng về trướng.
Không ít người trong quân đều ngờ Thừa tướng có bệnh, bệnh trong đầu.
*
Trong quân có các nhiệm vụ trực cổng, gác đêm, tuần tra ban đêm các loại.
Phương Thế Hữu thích nhất là việc tuần đêm ngoài thành. Đông đến gió rét cắt da, hắn cũng không sợ, thường bắt được động vật hoang dã trong những vách tường đổ dưới thành cũ, lột da nướng ăn.
Tôi chê hắn háu ăn, chỉ vì một miếng ngon mà mê mẩn.
Hắn lại luôn ha ha cười khà, khoanh tay trước ngực, cười mắt híp thành đường chỉ, thần thần bí bí nói:
“Tỷ cứ chờ đấy, ca ca tặng tỷ một món quà mừng năm mới.”
Đêm ấy hắn đi tuần đêm, lại đụng phải thám binh Thát Đát lén đến trộm lương.
Chúng chỉ là một tiểu đội, dù đã đánh chiêng báo động, bắn pháo tín hiệu lên trời, viện binh vẫn chậm một bước.
Phương Thế Hữu bị tên lạc bắn trúng vai, được cáng khiêng vào y trướng.
Khi ấy trời còn chưa sáng, tôi tóc tai rối bù xông vào, cầm máu, rút đầu tên, khử độc, khâu vết thương.
Các nữ y ùa tới thu dọn máu đen và phế liệu phẫu thuật.
Tôi ngồi phịch xuống một bên, lúc ấy đôi tay mới dám bắt đầu run rẩy.
Tên khốn kiếp ấy nghiêng đầu qua, trừng mắt nhìn tôi:
“Tinh tỷ tỷ, sao tỷ không khóc?”
“Lúc nằm trên cáng được khiêng về, ta rất muốn nhìn xem tỷ khóc lên trông ra sao.”
Tôi chỉ muốn cào cho hắn hai cái.
“Đệ mà còn đi săn thịt ăn nữa, ta không bẻ cổ đệ thì thôi!”
Hắn đập giường cười ha hả.
Tên này lớn lên trên núi với bọn thổ phỉ, thân thể dẻo dai, ngày thứ hai đã xuống giường, ngày thứ ba khoác áo bông lượn quanh doanh trại.
Tôi vác hòm thuốc theo sau mà gào lên:
“Phương Thế Hữu, tên ngốc nhà đệ!”
“Vết thương do mũi tên gây ra là dạng miệng phễu, ngoài nhỏ trong to. Nếu trúng phải thần kinh, sau này tay đệ sẽ không nhấc nổi đâu!”
“Mau trở về y trướng nằm cho ta!”
Hôm ấy chính là mùng một Tết, khắp nơi đốt pháo, lách tách đỏ rực náo nhiệt.
Trong doanh trại, nhiều tiểu tướng hào hứng nhìn hai chúng tôi rượt đuổi như gà bay chó chạy.
Cho đến khi Phương Thế Hữu chạy nửa vòng trướng chủ soái, lôi từ lều của mình ra một vật, bung ra trước mặt tôi.
“He he, quà mừng năm mới.”
Lời mắng nghẹn nơi cổ họng, miệng tôi há hốc ngây người.
Ấy là một chiếc áo lót bằng lông trắng.
Không tay áo, không cổ áo, càng không nói đến kiểu dáng, chỉ có mấy chiếc khuy cài đều đặn trên thân áo, những đường chỉ dày đặc, rõ ràng là được may rất chăm chút.
Mắt Phương Thế Hữu sáng long lanh.
“Đây là áo được ghép lại từ lông trắng dưới nách cáo, nghe người ta nói chỗ lông ấy nhẹ mà ấm nhất, gọi là hồ bạch cầu.”
“Ta vốn định may cho tỷ chiếc áo lông, tiếc là cáo lớn ngoài thành bị ta bắt sạch rồi, chỉ còn vài ổ con chưa mọc đủ lông.”
“Không đủ để làm tay áo, áo thì hơi ngắn, đành may thành áo lót, thêm một chiếc mũ trắng nhỏ nữa.”
“Tinh tỷ tỷ, tỷ thích không?”
Hắn đầy mặt mong chờ nhìn tôi.
Tôi: “… Hức.”
Miệng há quá lâu, không nhịn được mà ợ ra một tiếng lạnh buốt.
Phương Thế Hữu dở khóc dở cười.
Xung quanh, bao tiểu tướng đều quen biết hai chúng tôi, hò hét vang trời:
“Ồ ồ! Phương Tiểu tướng tặng tín vật đính ước cho Tinh nương tử rồi!”
“Tặng tín vật đính ước rồi đó!”
“Tinh nương tử chớ nhận vội! Đợi hắn kiếm đủ một bộ hồ bạch cầu hẵng hay!”
Sào tre móc dây pháo đỏ rực, nổ vang lách tách bên tai tôi.
Tôi ôm chiếc áo lót lông cáo mềm mại ấy, cảm động xen lẫn buồn cười.
Năm nay tôi hai mươi sáu tuổi.
Phương Thế Hữu mười chín.
Ba năm qua, tôi vẫn xem hắn như một tên nhóc.
Khi hắn dẫn một đám thổ phỉ xuống núi là lúc mới mất cha, bọn đầu lĩnh trên núi tranh quyền đoạt địa, hắn không chốn dung thân, tự lập môn hộ, lần đầu đi cướp chỉ cướp được mình tôi.
Ban đầu tôi sợ hắn giết người diệt khẩu, tìm trăm phương ngàn kế lấy lòng, giặt đồ may áo, làm món ngon.
Về sau bị cưỡng ép nhập ngũ, đã quen tay thành nếp, tật ấy cũng không sửa. May mũ, khâu giày, sẽ tiện thể làm thêm cho hắn một đôi; hấp màn thầu, nấu kẹo đường, phần lớn đều vào bụng hắn.
Chăm lâu thành quen, chẳng khác gì nuôi em trai.
Hầy, con trai lớn rồi, mất mặt trước bao người thì không phải lẽ.
Tôi đang nghĩ xem nên mở miệng thế nào.
Sau lưng bỗng siết chặt.
Tôi rơi vào vòng tay một người.