2. Hồi ức truông Gọi Hồn

Nỗi Buồn Chiến Tranh

Hồi ức truông Gọi Hồn

Nỗi Buồn Chiến Tranh thuộc thể loại Linh Dị, chương 2 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.

NHƯNG TÂM HỒN TÔI LẠI ĐÌNH CHỆN bước lại ở những tháng ngày ấy chứ chẳng thể nào đổi đời được, như cuộc sống của tôi vốn thế. Tôi luôn cảm nhận quá khứ vẫn lẩn khuất quanh mình. Đêm đêm, giữa chừng giấc ngủ, tôi nghe tiếng bước chân mình từ thuở xa xưa vọng lên trên hè phố lát đá.
Chỉ cần nhắm mắt lại, ký ức liền trỗi dậy, đẩy toàn bộ cuộc đời thực tại ra khỏi tâm trí. Bao nhiêu kỷ niệm đau thương, bao nỗi đau từng gắng gượng quên đi, cuối cùng đều bị thức tỉnh bởi những liên tưởng tưởng chừng vô nghĩa, nhưng lại xuất hiện từ những chi tiết tầm thường, rời rạc nhất trong cuộc sống nhạt nhẽo, buồn tẻ này.
Cách đây không lâu, trong giấc mơ, tôi trở lại truông Gọi Hồn. Dòng suối, con đường mòn, những trảng trống và bìa rừng xưa lấp lánh dưới ánh nắng xen mưa. Xa xa, ở hướng Tây Nam, bốn mỏm đá màu rêu của Ngọc Bơ Rẫy sừng sững. Giấc mơ mở ra từng trang như bức tranh sơn thủy tĩnh lặng. Suốt đêm, tôi sống lại cuộc đời của trung đội trinh sát, từng ngày, từng kỷ niệm, từng con người, rõ ràng như những thước phim quay chậm. Cảnh cuối cùng là ven suối, toàn trung đội tập hợp trước nấm mồ của Thịnh "con", vào buổi chiều trước khi rời Cánh Bắc.
- Thịnh ơi, hãy nằm lại với đại ngàn thân yêu. Bọn mình ra đi để bước vào trận mới - tôi nghe giọng mình ngày ấy, thay mặt toàn trung đội nói lời vĩnh biệt. - Từ lòng đất ẩm, hãy nghe thấu lời anh em. Xin hãy chứng giám và phù hộ cho anh em tung hoành trong đồn địch, hoàn thành nhiệm vụ. Xin hãy lắng nghe tiếng súng anh em rửa thù cho bạn sẽ rung chuyển đất trời...
Ôi, năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ của tôi! Đêm ấy, nước mắt tôi ướt đầm gối vì nhớ nhung, thương tiếc và cay đắng. Một đêm khác, cũng trong mơ, tôi nhìn thấy truông Gọi Hồn và gặp Hòa, cô giao liên xinh tươi người Hải Hậu, đã hy sinh vào năm 1968. Lần gặp gỡ này hầu như là duy nhất sau bao năm người còn kẻ mất.Trong màn sương mù đặc của giấc mơ, tôi chỉ thấy Hòa thấp thoáng, xa vời, nhưng lại cảm thấy tình yêu, niềm đắm say và sự gần gũi da diết mà hồi đó tôi chẳng hề cảm nhận. Hồi ấy chỉ toàn sợ hãi, bất lực đầy nhục nhã, cảm giác thất bại và tuyệt vọng. Khi tỉnh dậy, ngoài cửa sổ trời đã sáng, và ký ức cuối cùng còn đọng lại là cảnh Hòa ngã gục giữa bãi cỏ, sau lưng bọn lính Mỹ xô tới, vây xúm lại như đàn đười ươi, phì phò thở, giằng giật. Tôi lạnh gía, toàn thân đẫm mồ hôi, cổ họng đau rát vì mê hoảng, môi rớm máu, cúc áo ngủ đứt tung, ngực bị móng tay cào xước da. Trái tim tôi run rẩy nhói đau, đập dồn như treo trên đầu sợi chỉ.
Trở về sau chiến tranh, tôi phải chịu đựng hết hồi ức này đến hồi ức khác, ngày này qua ngày khác, đêm này đến đêm kia, thử hỏi đã bao năm trôi qua?
Nhiều hôm, giữa phố xá đông người, tôi lạc vào giấc mơ lúc tỉnh. Mùi hôi hám của đường phố bốc lên thành mùi thối rữa. Tôi tưởng mình đang đi qua đồi "Xáo Thịt", nơi người chết nằm la liệt sau trận xáp lá cà tắm máu cuối tháng Chạp 1972.
Tử khí xộc lên từ vỉa hè nồng nặc đến nỗi tôi phải đưa tay bịt mũi như kẻ hóa rồ trước mắt người qua đường. Có đêm giật mình thức dậy, nghe tiếng quạt trần hóa thành tiếng rú rít của trực thăng vũ trang. Thót người nín thở đợi một trái hỏa tiễn từ tàu rà phụt xuống. "Chéo-éo-éo... Đoành!" Và tôi không thể bình tâm trước cảnh lính Mỹ mặc áo giáp gào thét xung trận trên màn ảnh truyền hình. Tôi như sẵn sàng nhập thân trở lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn. Thói hiếu sát. Máu hung tàn. Tâm lý thú rừng. Ý chí tối tăm. Lòng dạ gỗ đá. Tôi chóng mặt choáng hồn vì niềm hưng phấn man rợ khi bật sống dậy trước mắt một trận cận chiến bằng báng súng và lưỡi lê. Trống ngực nện thùm thùm, tôi nhìn chằm chằm vào góc tối cầu thang nơi các hồn ma rách nát thường hiện hình, ôm theo những vết thương đỏ lòm. Cuộc đời tôi kỳ thực như con thuyền bơi ngược dòng sông không ngừng bị đẩy lui về dĩ vãng. Tương lai đối với tôi nằm lại phía sau xa xôi rồi. Không phải cuộc sống mới, thời đại mới cứu tôi; trái lại, những tấn thảm kịch quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần giúp tôi thoát khỏi vô tận những tấn trò đời hôm nay. Chút lòng tin và ham sống còn lại trong tôi không phải nhờ ảo tưởng, mà nhờ sức mạnh của hồi tưởng. Tuy nhiên, mặc dù rất đỗi mù quáng, tôi vẫn không thể không biết rằng không thể trông đợi gì vào những điều nhớ lại, rằng từ lâu đã không còn gì nữa, tất cả đã tắt hẳn. Tôi cũng không thể không hiểu rằng ngôi sao chiếu mệnh thời tôi đã vĩnh viễn lụi tắt. Vinh quang thời đã qua dẫu tột đỉnh, chỉ một sớm một chiều. Hào quang sau chiến tranh đã chóng vánh mai một trong từng thân phận. Những người chết đã chết, người sống tiếp tục sống, song những khát vọng nồng cháy từng soi rọi cuộc đời tôi, thiên chức và vận hội thế hệ mình, rủi thay không thể thành hiện thực cùng thắng lợi kháng chiến. Đến bây giờ, quanh ta có gì khác hơn cuộc sống tầm thường thô bạo thời hậu chiến?
Và thế là đằng đẵng bao nhiêu năm trôi qua? Mười năm, rồi mười một, mười hai, mười ba. Ngay cả tuổi bốn mươi xa lạ cũng chỉ còn lại nốt mùa đông này. Từ chân trời dĩ vãng, ngọn gió buồn vô hạn của tình yêu và tự do cứ thổi mãi qua thành phố, làng mạc và đời tôi.
Kiên buông bút, tắt đèn bàn, nhẹ nhàng đẩy ghế ra đứng dậy, lặng lẽ đến bên cửa sổ.
Trong phòng rất lạnh, anh thấy tức thở, oi bức, khó chịu như trước một cơn giông giữa đêm hè. Cảm giác không toại nguyện, đắng ngắt. Dường như càng tiến gần, ngòi bút càng chệch xa khỏi cốt lõi tác phẩm.
Mỗi buổi tối, trước khi ngồi vào bàn, Kiên gắng chuẩn bị tâm trạng thích hợp - anh tách bạch từng cảm xúc, định hình vấn đề phức tạp như phác sẵn từng trang, từng trường đoạn. Nhân vật sẽ làm gì, nói gì, gặp hoàn cảnh nào đều có tính trước. Thế nhưng đà viết thường cuốn trôi mọi dự định, xáo trộn trình tự, mạch lạc. Khi đọc lướt lại, Kiên ngỡ ngàng thấy điều khẳng định ở trang trước bị phủ định ở trang này. Nhân vật không ngừng tự mâu thuẫn. Càng trăn trở, Kiên càng trượt khỏi vấn đề trăn trở. Nhiều đêm, Kiên miệt mài theo đuổi ý tưởng, bám theo từng dòng, từng trang, vật vã, dằn vặt, rồi chợt nhận ra chẳng có ý tưởng nào, hoặc nó mờ mịt, nằm ngoài tầm với. Anh viết ra dường như để hủy. Nỗi xót xa tiếc rẻ công sức, tâm lực phí hoài, nỗi lo sợ giẫm chân tại chỗ không thắng nổi bệnh cầu toàn. Gạch, xóa, gạch, xóa, xé sạch, rồi lại cặm cụi viết, nhích dần từng chữ như gã học trò đánh vần. Kiên chưa bao giờ sẵn sàng đón nhận khả năng mình chẳng có tài năng. Anh tuyệt vọng nhưng không hoàn toàn tuyệt vọng. Anh viết, chờ đợi, lại viết, lại chờ đợi, nôn nóng, căng thẳng, đầy kích động. Sống một mình với cảm xúc, lao động không ngừng, già đi trông thấy. Có lẽ chỉ nhờ niềm tin kỳ quái vào bản thân mà Kiên vẫn đứng sau bao thất bại, kiên trì nuôi giữ linh cảm về thành quả sẽ tới.
Tuy nhiên, từ khi bắt tay vào tiểu thuyết tâm trạng, Kiên như mấp mé bờ vực. Bên cạnh hy vọng, anh ngờ vực sự sáng suốt của mình, không dám chắc vào bản ngã. Càng viết, Kiên càng nhận thấy dường như không phải anh, mà cái gì đối lập, thậm chí thù nghịch với anh đang viết, vi phạm, lật ngược giáo điều, tín niệm văn chương của anh. Mỗi ngày, Kiên dấn mình thêm vào vòng xoáy nghịch lý hiểm nghèo ấy. Ngay từ chương đầu, cuốn tiểu thuyết buông lơi cốt truyện truyền thống, không gian, thời gian tự ý khuấy đảo, không kể tính hợp lý, bố cục bấn loạn, dòng đời nhân vật phó mặc ngẫu hứng. Kiên viết về chiến tranh tùy ý, như thể cuộc chiến ấy chưa từng được biết, như thể của riêng anh. Nửa điên rồ, Kiên lao vào chiến đấu lại cuộc chiến đấu đời mình, đơn độc, phi hiện thực, cay đắng, đầy va vấp lầm lạc.
Dẫu biết sẽ thất bại, Kiên vẫn không dừng được. Cuốn tiểu thuyết dầu tay bấp bênh, dang dở như cuộc phiêu lưu cuối cùng đời lính, thách thức sinh tồn anh không chỉ trên tư cách người cầm bút. Sự nghiệp bút nghiên đưa Kiên tới bờ vực, không lẩn tránh, lần lữa, chẳng phép màu, cứu cánh.
Nhưng trên hết, Kiên tin mình tồn tại với thiên mệnh vô danh, thiêng liêng bí ẩn. Chính thiên mệnh ấy cho anh tuổi thơ, tuổi hoa niên, thời chiến trận, cuộc sống suốt bốn chục năm với đau khổ hạnh phúc ấy. Cũng vì thiên mệnh ấy, anh sống sót qua chiến tranh với hoàn cảnh không thể thoát chết. Ánh sáng vô hình ấy thực ra đã biểu hiện trong đời anh thoảng lướt, bất chợt, không kịp hiểu, níu giữ. Nó nhói lên, lóe sáng, phụt tắt như sao băng. Lần đầu, Kiên cảm thấy sức mạnh bí ẩn soi rọi trong anh không phải trong chiến tranh mà những ngày hòa bình đầu. Sức mạnh ấy nhói lên, thôi thúc anh vượt hoàn cảnh tối tăm đời sống thời bình, nuôi giữ lòng tin, ham sống, tình thương. Anh chưa bao giờ hiểu, thậm chí cảm nhận nổi thiên mệnh ấy, chỉ biết nó tồn tại âm thầm, bí ẩn, êm ả, đau đớn không thể nhận thức. Theo năm tháng, tâm hồn Kiên chín muồi hơn khát vọng thể hiện thiên chức đời mình, gọi được nó thành lời.
Vào mùa hè cách đây dăm năm, trên đường lãng du, Kiên tình cờ ghé qua thị trấn Nhã Nam, rẽ vào thăm Đồi Mơ, xóm nhỏ ngày xưa. Hai mươi năm trước, tiểu đoàn tân binh chốt ở đây ba tháng, huấn luyện, an dưỡng chờ "đi Bê dài". Dường như chưa một ngày nào của hai chục năm ấy trôi qua. Cảnh vật y nguyên như thời gian bỏ sót. Những đồi thông, sim mua, cỏ giành, cỏ đuôi chồn, rừng dẻ, bạch đàn quạnh vắng. Nhà cửa thưa thớt, mỗi đồi một nhà, buồn thảm như xưa. Không định trước, Kiên rời đường cái rẽ vào đường mỏng chìm trong cỏ, vòng quanh Đồi Mơ tìm túp nhà của mẹ Lành, mẹ nuôi bọn anh ba đứa ngày ấy.
Túp nhà vẫn đó, tường đất, mái gianh, mảnh sân hẹp, vườn um tùm cỏ. Bên thềm, giếng nước với ròng rọc ken két vẫn đây. Mẹ nuôi đã qua đời. Giờ là Lan, con gái út của bà:
- Lúc ấy em mới chưa đầy mười ba, vẫn chú cháu với các anh... mới lại con gái đồng rừng xấu xí nhút nhát - chị nói. Nhưng giờ trước mắt Kiên là thiếu phụ mảnh dẻ, cặp mắt to đượm buồn, vẻ quyến rũ thầm lén.
Chị ứa nước mắt khi biết Quang, Hùng hai người cùng tổ tam tam với anh đều đã nằm lại trong chiến tranh. "Thời buổi ác nghiệt - chị nói - dài quá là dài, cuốn đi biết bao người... bao lượt tân binh về đóng ở nhà em, gọi mẹ em là mẹ, coi em là em, thế mà chỉ anh trở lại. Hai anh trai em, bạn học, cả anh ấy nhà em nữa đều lứa đàn em các anh, đi bộ đội sau các anh bao nhiêu năm, chẳng ai thoát về được cả."
Chị đưa anh lên đồi viếng mộ bà mẹ. Sau trận mưa chiều, màu cỏ xanh mướt, nước trên đồi Mơ thắm hồng ánh đỏ của ngọn lửa. Dưới đồi, con sông chảy lượn qua, nhìn từ trên đồi thấy loáng thoáng quãng sông uốn khúc lấp lánh ánh phản quang. Kiên thắp nhang, cúi đầu hồi lâu trước mồ bà mẹ nuôi, bất lực cố hình dung nét mặt bà.
- Giá hồi đó người ta hẵng báo tử lần lượt thưa ra thì có khi mẹ em vẫn còn sống tới giờ. Không may hòa bình về nhưng chuyện chết chóc họ muốn dứt khoát đâm thành ác nghiệt. Mẹ em thật như xô ngã, mê thiếp đi, bằn bặt suốt ba ngày không hồi tỉnh. Mẹ mất đi chẳng nói một lời, anh ạ...
Bên mồ bà cụ là nấm mộ nhỏ của con trai Lan. Lan kể, không khóc:
- Thằng cu nhà em đẻ ra nặng gần bốn ký, sống có hai ngày. Cháu tên Việt, họ Nông. Anh ấy người Tày, quê tít đâu trên mạn ngược Hà Giang. Về đóng ở đây non một tháng, chưa kịp cưới xin, báo cáo cấp chỉ huy. Đi được nửa năm, thư về cho em, người cùng tiểu đội viết. Báo tin anh ấy đã hy sinh trên đường qua Lào... Thằng cu Việt con em còn trong bụng mẹ đã mồ côi cha, có lẽ vì thế chẳng muốn sống... Đời em như thế đấy, anh ạ. Mỗi năm mỗi xiêu đi. Em cứ ở vậy. Quanh quẩn trong nhà ngoài đồi. Chẳng để ý tới ai, chẳng ai để ý tới. Mà lạ từ sau đợt đơn vị nhà em, Đồi Mơ không có thêm đợt bộ đội nào về nữa. Rồi hòa bình tới hôm nay, bao năm rồi...
Chị lưu anh lại tối ấy. Suốt đêm. Đêm hè ngắn ngủi. Văng vẳng tiếng cuốc kêu gọi ngoài xa, mé rừng. Và rì rầm bên kia đồi dòng sông trôi. Hôm sau Kiên ra đi từ sáng sớm. Lan tiễn anh qua đồi. Họ đi bên nhau, lặng lẽ. Mặt trời lên, sương vã dần. Sau một đêm, gương mặt Lan gầy đi, thâm quầng.
- Đã có lần em định đi kinh tế mới, bỏ hẳn đất này vào Nam sinh cơ lập nghiệp - Lan nói, giọng buồn buồn - nhưng không dứt lòng. Trên đây, hai bà cháu nằm đấy... chẳng hiểu sao em cứ nán chờ, chờ mãi, chờ gì, chờ ai? Không lẽ là chờ đợi chính anh?
Kiên không thốt nên lời, mắt nhìn tránh đi. Chả hiểu sao em nhận ngay ra anh. So với hồi ấy, anh khác hẳn... Mới lại hồi ấy em còn nhỏ oắt. Hay, anh là tình đầu của em mà em không hay. Kiên gượng cười, lòng thắt lại. Gần tới đường cái, anh dừng bước. Nắm nhẹ bàn tay Lan, nâng lên, cúi xuống, áp môi, chầm chậm hôn rất lâu.
- Em ở lại, bình yên sống, đừng buồn nhé, em mến thương! Đừng nghĩ xấu về anh.
Âu yếm, Lan vuốt vuốt vai áo anh, hôn lên mái tóc điểm bạc.
- Đừng bận về em. Đời anh rộng mở, hãy đi và hãy sống cho thỏa... còn em, em sẽ nuôi con nuôi, sẽ sống bình yên. Giá kể có được với anh... nhưng không, thì cũng gì mà buồn. Coi như cả anh cả em, ta một lần được trở về hồi trước, khi tất cả người thân yêu còn sống... Còn nữa, tức là em cũng cứ nói phòng thế, bỗng dưng một ngày nào anh gặp cảnh ngộ không may, thấy đã hết ngả để đi tiếp thì xin anh hãy nhớ ngay rằng, dù sao cũng còn một nơi, còn một người... Đồi Mơ đây là nơi anh đã lên đường chiến đấu lập nghiệp, mai sau nếu anh muốn cũng sẽ là nơi, chốn anh về.
Kiên ôm lấy Lan, riết vào ngực.
- Thôi anh đi đi kẻo muộn. Em sẽ nhớ anh mãi. Còn anh đừng quên hẳn em nhé, anh thân yêu tình cờ của em!
Những bãi cỏ ven đường ngập nắng. Bóng Kiên ngả dài. Anh bước đi, đầu cúi xuống. Bầu trời mùa hạ cao xanh, buồn bã. Khi ngoảnh lại, Lan còn đứng đó trông theo. Nhưng lần nữa, bóng Lan khuất sau đồi. Mấy năm sau, một chiều nọ, cũng đang hè, trên đường từ biên giới trở về Hà Nội, chiếc com măng ca chở Kiên và nhóm phóng viên chạy chéo qua ngả Bắc Giang, miền bán sơn địa nhấp nhô đồi gò, khe lũng, vạt rừng thưa. Trong xe dần chỉ còn Kiên thức cùng người lái. Gió lướt dài mát rợi. Hai bên đường hơi đất mềm mại lan ra, không gian tĩnh lặng như khối lam chiều hoang vắng. Trong lòng Kiên chợt nao lên nỗi buồn đơn giản, xót xa choáng ngợp. Phải, chính ở đây. "Vẫn còn một nơi, vẫn còn một người!" - Lời ước hẹn buồn bã ngày ấy vẳng lên, lòng Kiên biết cuộc đời mình đã hết, đã hết cả chút dư âm cuối cùng. Bao quãng đời yêu dấu với bao người thân yêu nay đều đã biệt tăm, anh chẳng hề lưu giữ được gì, đã phí hoài tất cả. Có thể nói trong nhiều năm qua anh sống chẳng hề ngoái nhìn lại. Không dịp, chẳng nhu cầu, ngày tháng công việc xô trào che lấp hết. Giờ thì đã muộn mất rồi. Anh nhắm mắt, cảm giác nghẹn ngào lìm lịm lặng lẽ dìm tim anh xuống. Tuy nhiên không phải niềm tuyệt vọng...
Chiều ấy, kỳ lạ, kỷ niệm về Đồi Mơ, mối tình đầu vô danh đêm ven đồi năm nào trỗi dậy trên đường xa, làm tỉnh lại trong anh ý thức về thiên mệnh đầy thôi thúc. Thôi thúc tha thiết, u buồn. Đời anh rộng mở: hãy đi và hãy sống...
Đấy, cần phải viết về chiến tranh trong niềm thôi thúc ấy, viết sao cho xao xuyến lòng dạ, xúc động trái tim như viết về tình yêu, nỗi buồn, sao cho truyền được vào cuộc sống đương thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt bằng quá khứ. Kiên nghĩ. Dẫu cố nhiên chiến tranh không hề như vậy.
Chiến tranh...
Nhưng vì sao anh lại chọn đề tài chiến tranh, nhất thiết phải là đề tài ấy? Trong chiến tranh, cuộc sống anh, bao người thật kinh khủng, thậm chí khó có thể bảo là cuộc sống, nói gì đến sắc thái nghệ thuật. Chính anh, chứ chẳng phải ai khác, đến tận ngày hôm nay không tài nào bước vào rạp chiếu bóng xem phim người ta nhè đầu nhau mà khạc đạn. Không những thế, văn chương về chiến tranh, tất nhiên của người khác, anh hết sức tránh đọc. Thú thật, anh khiếp hãi thiên truyện ấy. Thế nhưng bản thân anh lại thế, một mực sống chết viết mãi không chán súng nổ bom rơi, mùa khô mùa mưa, quân địch quân ta. Anh không thể viết khác. Mai sau, nếu có viết khác, cũng bởi thâm tâm muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước. Đôi khi toan hướng mới, nhưng ngòi bút chẳng tuân theo. Khi bắt đầu cuốn tiểu thuyết đầu tay, Kiên dự định cốt chuyện hậu chiến, chương đầu viết về thu hài cốt tử sĩ, lính sắp giải ngũ trở về đời thường. Song cách không thể cưỡng lại, các trang dựng dậy hết cái chết này qua cái chết khác, đi sâu mãi vào rừng nguyên thủy chiến tranh, lặng lẽ nhóm lên lò lửa tàn khốc ký ức. Thực ra, anh có thể viết bao chuyện chẳng dính trận mạc, bởi nhìn cuộc đời đâu phải từ mặt cửa duy nhất.
Chẳng hạn, thời thơ ấu, vô cùng hạnh phúc buồn đau trước chiến tranh, còn nhiều kỷ niệm chưa phai, anh nghĩ hoàn toàn có thể viết với niềm tuyệt hứng "Tôi sinh ra và lớn lên... cha tôi mẹ tôi lúc sinh thời...!" Tại sao không viết về cuộc đời cha, thế hệ người, vĩ đại bi thảm, đầy hoài bão không tưởng, mang nặng phẩm chất tình cảm cao quý mai một. Cứ mỗi lần nghĩ lại tuổi thơ, nhớ đến cha, Kiên cảm thấy ân hận, dường như chưa đủ mức tôn kính cha, biết quá ít, hầu như không biết gì cuộc đời cha. Anh chẳng nhớ gì tấn bi kịch gia đình, không biết vì sao cha mẹ chia tay, không biết cha mẹ đau khổ thế nào. Về mẹ càng ít hơn... Lạ lùng, anh nhớ người chồng sau của mẹ, nhà thơ tiền chiến ẩn danh, già về già Kiên đã một lần thăm ông ở ngôi nhà nhỏ gần Chém có cửa sổ nhìn ra đê sông Hồng. Mùa đông ấy, anh vừa mười bảy tuổi, cha mới qua đời, mẹ mất từ mấy năm trước. Trước ngày nhập ngũ, Kiên đến để từ biệt dượng. Ấn tượng khó quên.
Ngôi nhà xám xịt, cũ kỹ. Gió lạnh lẽo vô định làm nghiêng ngả ngọn phi lao nhô lên sau mái nhà giữa khu vườn thê lương trơ trụi chiều đông. Cảnh sinh hoạt nghèo nàn lộ liễu. Bàn thờ bụi bặm, tấm hình mẹ lồng khung kính rạn nứt. Chiếc giường ọp ẹp. Bàn làm việc bừa bộn sách vở, ly chén. Cuộc sống độc thân rời rã, đắp đổi qua ngày của dượng làm anh mủi lòng. Bản thân dượng cố giữ phong độ trái ngược tình cảnh. Tóc bạc trắng, lưng hơi còng, rõ ràng rộc đi vì bệnh. Tay run run, mắt mờ, trang phục tàn cũ nhưng không luộm thuộm, cư xử thân mật, hào hứng, lịch thiệp. Ông pha trà ngon mời anh, dưa thuốc cho anh hút, nhìn anh vẻ buồn buồn, nói giọng dịu dàng:
- Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ con người trước Trời Đất là sống chứ không phải hy sinh, nếm trải sự đời đủ ngành ngọn chứ không phải chối bỏ. Không phải ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả, nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ cái gì. Con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời, mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài, bao hạnh phúc lạc thú phải hưởng, có ai sống hộ cho con được bây giờ?
Ngạc nhiên, không đồng tình, Kiên cảm thấy tin cậy lời dượng. Anh gần gũi suy nghĩ ông dù không hoàn toàn hiểu. Cảm nhận trí tuệ sâu sắc, đa dạng, tâm hồn lãng mạn nhiệt thành lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng ngây thơ, thiếu thiết thực, vô bổ, thậm chí lầm lạc. Bất chợt anh hiểu mẹ đã từ bỏ cha để đến với dượng. Suốt chiều, Kiên ngồi bên ông trong căn phòng mẹ từng sống, qua đời. Buổi chiều mùa đông trở thành kỷ niệm duy nhất về mẹ dù không thoáng hình bóng bà. Về dượng, sau khi đọc mấy câu thơ tình ông sáng tác thời trai trẻ, liền lấy đàn ghi ta treo tường xuống, hát bài Văn Cao mẹ anh hằng ưa thích. Bài hát chầm chậm, buồn buồn, gợi nhớ người thân đã khuất, tiên cảm ngày mai bất hạnh, khuyên đừng vô vọng, đừng sầu thương, đừng than tiếc vô ích, hãy sống...
Kiên viết thư cho dượng khi còn ở Nhã Nam, nhưng không nhận hồi âm. Mười năm sau, trở về tìm, chỉ biết dượng mất từ lâu, ngôi nhà bị san đi từ bao giờ. Một con người như thế, một câu chuyện như thế, còn bao chuyện khác, bao người khác đời anh. Những người thân quen, xa lạ, chết hoặc sống, chuyện chắc có thật lẫn chẳng rõ thực hư. Có lần, người đàn ông lạ mặt tìm Kiên đề nghị hiến mối tình vợ chồng ông cho văn học. "Chỉ cần đồng chí hư cấu tên, giữ nguyên tất cả. Xúc động bi thảm lắm ạ" - ông bảo. Âu yếm, ngọt ngào, nhưng bản thân lòng tin ông, ước muốn tặng vợ món quà phi thường nhân kỷ mềm ba mươi lễ thành hôn chẳng tuyệt vời? Nói chung, bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào cũng có thể cảm nhận điều gì đó để viết về bất cứ ai. Bởi từ cuộc sống phức tạp ẩn giấu sau vẻ bình thường, định hình nét dù nhỏ nhưng thực đáng ghi, quả là trời khả năng sáng tạo mở muôn hướng.
Chẳng hạn, Kiên nghĩ, sao không viết tiểu thuyết về cộng đồng kỳ thú người hàng xóm tầng trên, tầng dưới, chung tầng? Bản hòa tấu khuôn mặt, cuộc đời. Chuyện tuyệt nực cười, nỗi buồn xé lòng diễn ra hàng ngày. Đặc biệt buổi tối mùa hè mất điện, nóng như hầm phải ra sân hóng gió tới khuya, hoặc cùng bà con chầu chực trước vòi nước độc nhất. Người ta kể chuyện bà giáo Thủy tầng một góa chồng từ ngoài hai mươi, ở vậy nuôi con suốt bấy nhiêu năm, sắp về hưu, sắp cháu ngoại, bỗng dưng phải lòng ông Tư bán sách đầu phố, giấu nhau nhưng rõ ràng là tình yêu. Hay nhà Cường tầng ba, chồng rượu vào cơn hùng hổ toan đánh vợ, không ngờ trông gà hóa cuốc, hạ đo ván mẹ đẻ. Mới đây nhất, ông Tánh tầng hai, đại úy quân nhu về vườn, do quá nghèo khổ, gia đình lục đục, sinh quẫn, toan tự tử, nhưng không chết. Tình cảnh ông đại úy vẫn khá so với bà cụ Sen mù lòa góa bụa, mẹ hai liệt sĩ bị vợ chồng anh cháu họ cướp nhà, đẩy vào sở điên Trâu Quỳ. Anh cháu họ giàu có, thông minh, tốt nghiệp đại học kinh tế, hay đi nước ngoài, biết hai ngoại ngữ. Mỗi lần đi làm về, ăn no, nghỉ ngơi, bận pizama ngồi trước cửa sổ lên liên hồi ngáp. Chị vợ làm tòa án, trang trọng, môi mím chặt, chưa từng chào hỏi. Bảo, con ông bà Bình bác sĩ tầng ba, "trù" có thâm niên cao ở Hỏa Lò, mới vừa ân xá hồi đầu năm, nhanh chóng được bà con cảm thông. Phạm tội giết người, lãnh án tử hình, hạ xuống chung thân, ngồi hai chục năm, nom không như phần tử, trái lại dáng chay tịnh như chân tu. Chỉ thời gian ngắn sau ra tù, con người nguy hiểm ấy đã làm bà con ngạc nhiên trước tâm tính dịu hiền, tấm lòng chân thực trong sáng, ngây thơ khắc khổ. Chỉ có điều nom Bảo quá buồn, đôi mắt buồn, nụ cười hiền hậu buồn khôn xiết, buồn đến nỗi ai nấy không khỏi thấy lòng se lại.
Chỉ riêng khúc cực ngắn chảy qua ngôi nhà này, dòng sông cuộc sống đá thác ghềnh ngoắt ngạo, muôn vẻ. Bao nhiêu chuyện đời, bao nhiêu cuộc đời. Lũ trẻ sinh sôi, trưởng thành, người lớn già đi. Cuộc đời tựa sóng. Cuối mùa hạ vừa rồi, "cố" Dụ thợ cạo vĩ đại Hà thành qua đời, thọ chín mươi bảy tuổi. Cố là cụ già cuối cùng thời trước chiến tranh, khi Kiên còn bé, sống tới ngày nay. "Cả Ngọc hoàng lẫn Diêm vương nhất định không cho ta rốn nốt ba năm cho tròn một thế kỷ của riêng ta" - giọng đã mất âm sắc, hơi thở phều phào, cố vẫn gượng nói - "Những chuyện đời hay nhất ta còn chưa kể... hãy dựng lên vở "người thợ cạo thành Hà Nội" nhé... Từ dưới đó ta sẽ lần lên xem công diễn..."
Cố hành nghề tóc từ thuở đàn ông Hà Nội còn búi tóc cổ lỗ, tự hào nói: dưới bàn tay ta, vạn ba lượt mái đầu, bộ mặt đã được mỹ hóa, từ xù xì thô lậu thành đẹp đẽ thơm tho như tảng đá được điêu khắc thành con người.
Trước chiến tranh, con cháu, chắt của cố quây quần chật ních, nhiễm bệnh thợ cạo, giống cố ở nét xởi lởi hay chuyện, tán dóc, lam làm, lập đại gia hiền lành, vui vẻ, hơi buồn cười. Trong hồi ức tuổi thơ Kiên, không thể thiếu âm điệu giòn tan chiếc kéo diệu kỳ, giai thoại cố kể, giai điệu ngang phè La Mác-xây-e cố hát tiếng Tây bồi. Đối với Kiên, vang vọng lâu bền nhất là tiếng rì rầm cuộc đời thường chứ tuyệt nhiên không phải tiếng rền động biến cố thời chiến, dù đời thường xa xưa bị bão tố lật trời chiến tranh quét sạch. Gia đình cố Dụ đông vui, sau chiến tranh chỉ còn cố. Gia đình ông Huynh có ba con tử trận, Sinh thương binh cột sống, bán thân bất toại... Tất cả bị chiến tranh nghiền nát, dư âm bền lâu hơn tàn tích chiến tranh.
Bao bạn bè đồng lứa Kiên trong chung cư ra đi không trở về, ngôi nhà vẫn đây, hình bóng họ vẫn đấy. Đời sống người hy sinh vương hình bóng trên gương mặt thế hệ sau. Kiên nhớ Hạnh, người phụ nữ độc thân sống căn phòng sát chân cầu thang, giờ thuộc gia đình ông Sự. Chẳng biết vì sao giờ đây ít người nhớ Hạnh, càng không nhớ nổi Hạnh rời nhà năm nào, đi đâu, vì sao. Hạnh hơn tuổi Kiên chừng nào chẳng biết. Khi anh còn oắt con, đàn ông trong phố bê bết cuộc đời vì Hạnh. Người ta ẩu đả nhau vì cô. Bọn trai bên số chẵn đánh nhau chí chết với bên số lẻ để có thể tiếp cận cửa phòng Hạnh. Mỗi lần thấy cô đi qua, dáng mềm mại, trẻ trung, toàn thân ỏng ẹo uể oải, nam nhi phố nhất loạt đứng sững, dán mắt, người si ngốc, người mắt rực lửa, sắp văng tàn lửa thèm khát. Các bà, chị vừa ghét vừa sợ. "Đồ đĩ!" - Họ chửi sau lưng Hạnh - "Đồ giăng hà! Con ma chài!" Song cả sự thù ghét lẫn lòng say mê đều phi lý. Kiên thấy Hạnh là người hàng xóm như những người khác. "Chào chị ạ!" - Kiên lễ phép chào. "Chào chú em, ngoan quá?" - Hạnh đáp, chỉ thiếu xoa đầu cậu.Ngày tết, chị mừng tuổi Kiên như lì xì bất cứ đứa bé nào. Những đồng năm hào loạt soạt, lời chúc học giỏi. "Chúc cậu em học hành tấn tới... năm nay ra dáng lắm rồi. Coi chừng chỉ giỏi giang cơ bắp thôi là thành đồ ngốc đấy nhé, cậu em?"
Rồi đến lúc Hạnh phải đổi cách xưng hô. Khi ấy Kiên học lớp mười, mười bảy tuổi. Thời gian ấy, chiến tranh đã ngấp nghé. Thăng Long phi chiến địa, đã sơ tán, đào hầm, nghe còi báo động, mặc áo sẫm. Hôm ấy, buổi trưa, vừa đi học về, đang ngồi ăn cơm, Kiên thấy Hạnh hé cửa ló đầu vào:
- Này chú em, chiều nay xuống giúp chị một cái tăng xê nhé. Chị muốn có sẵn trong giường đêm còi khỏi phải chạy ra đường. Có được không?
- Vâng, rồi em sẽ xuống.
Đây là lần đầu tiên Kiên vào buồng người đàn bà trẻ độc thân ấy. Phòng nhỏ, bài trí giản dị, đẹp, gợi cảm. Kiên muốn khuyên chị không phá vẻ hài hòa, cậu tặc lưỡi, nạy lên chục viên gạch hoa, chọc thủng móng nhà. Sau dùng cuốc, xẻng moi dần. Hạnh dọn bữa cơm tối ngon, có bia cho Kiên. Cơm xong, không nói, Kiên hì hục đào tiếp.
Mất điện, thắp đèn dầu. Kiên đào, Hạnh xách xô đất đá đổ góc vườn sau. Im lặng, lầm lũi. "Có lẽ được rồi chị ạ, lút ngực em thì có lẽ chị quá cằm rồi. Có khi sâu quá cũng nên."
- ừ, thôi thôi. Nhưng để chị xuống thử xem đã. Có khi phải nhờ em xẻ hộ mấy bậc cho nhanh.
Bình thường nhìn Hạnh không thấp hơn Kiên, nhưng dưới hố cá nhân, chị chỉ cao đến cằm cậu. Vóc người mảnh mai lọt thỏm vào thân hình chẳng ngờ đàn ông đến thế của cậu. Cảm nhận ấy, vừa chạm chân đáy, Hạnh rùng mình, hớt hải toan co mình vọt lên. Hố quá sâu, lòng hố hẹp, cái rùng mình như luồng điện truyền sang Kiên. Toàn thân đột ngột sững sờ tê dại, chưa từng cảm thấy. Kiên thở hực lên. Lần đầu, cậu cảm thấy không phải bằng mắt, thính giác sát kề bên mình tấm thân phụ nữ, mùi da thịt ngây ngây đôi vai, cặp vú mát rượi dưới lần áo mỏng.
Ngờ nghệch, run lên vì choáng xốc, Kiên chụp lấy Hạnh, hung dại hôn cổ, vai. Hạnh âm thầm vùng quậy, chống tay vào ngực Kiên, cố đẩy ra. Vụng về, Kiên ấn hai vai Hạnh ép vào bờ đá. Cúc áo đứt phựt, vải rách xoạc. Kinh hoàng, cậu sực tỉnh, thả Hạnh, đu người vọt lên miệng hố, toan chạy. Chiếc đèn dầu đổ nghiêng, vụt tắt.
- Kiên? - Hạnh gọi khẽ, hớt hải - Chạy đi đâu... Sao lại thế. Cho mình lên với.
Run rẩy, Kiên cúi xuống xốc vai Hạnh, kéo nhấc lên. Cái áo mỏng vừa bị rách toạc lại rách thêm. Hạnh quàng tay lên cổ Kiên, thì thầm hổn hển:
- Hẵng lên trên nhà một lát... rồi trở xuống đây. Mình sẽ... mình cần nói với Kiên điều này...
Kiên trở lên phòng, tắm, thay quần áo, không dám xuống. Không ngủ được, trằn trọc. Tảng sáng, cậu ra khỏi phòng, đi chân không, rón rén bước xuống cầu thang, đứng lặng, trống ngực nện thùm thùm, không dám gõ. Bỗng cậu nghe tiếng chân bước nhẹ trong phòng, dường như móc cài cửa nhấc lên thật khẽ. Nín thở, Kiên cảm nhận thân mình Hạnh đang áp nhẹ bên kia cánh cửa gỗ. Run run, cậu để tay lên nắm đấm sứ. Nhiều giây, có lẽ phút đã qua, tịnh không tiếng động. Đột nhiên, Kiên buông tay khỏi nắm đấm, lùi một bước, ngoắt người vụt chạy lên cầu thang, xô về phòng, vật xuống giường. Thế là từ đấy, Kiên tránh giáp mặt Hạnh. Khi chạm nhau, cúi gầm xuống, lí nhí: "Chị..." Hạnh nhìn, khẽ đáp: "Chào em", luôn muốn nói thêm điều gì nhưng không bao giờ nói.
Thời gian sau, Kiên nhập ngũ, Hạnh đã vào Thanh niên xung phong, đi sâu vào Khu Bốn. Ngày Kiên trở về, buồng chị đã có người khác. Chiếc hố đào ngày ấy tất nhiên chẳng còn dấu vết. Bỗng dưng nỗi buồn làm Kiên chìm ngập vào thời thơ ấu. "...rồi trở xuống đây. Mình sẽ... mình cần nói với Kiên điều này..." Mãi mãi trong lòng Kiên lưu giữ thầm lặng tình cảm biết ơn đầy tha thiết, ngậm ngùi đối với chị, niềm nuối tiếc, nỗi đau mất mát lớn. Tuyệt nhiên chưa bao giờ Kiên định sẽ viết cái gì về kỷ niệm này. Còn bao kỷ niệm khác, bao con người, bao số phận suốt đời không thể quên, song suốt đời không thể viết lên thành truyện. Không bao giờ có thể, dù kiếp này, kiếp sau...
Thở dài, Kiên áp mặt vào tấm kính cửa lạnh ngắt, nặng nề đưa mắt nhìn sâu vào đêm. Cây bằng lăng trước nhà ngọn vươn cao quá cửa sổ, cành lá ướt nhóng nhánh xòe che ô kính. Dưới đường, ngọn đèn khuya sáng rải thành rẻo rời rạc, luồn trong lưới mưa đan, chạy xa hút về khoảng trống hồ nước cuối phố. Bên kia lòng đường, bóng đêm lay động theo vòm cây tối đen, hiện lên dập dờn mái nhà nhọn, tù. Suốt dọc phố hầu như không còn cửa sáng đèn, không bóng xe cộ, không bóng bộ hành.
Vào lúc này, thành phố yên ắng đến tưởng chừng nghe tiếng mây trôi, tưởng cõi thực lui khỏi thế giới, nhường lại cõi trống không cho hằng hà miên man ảo giác. Hà Nội mỗi giờ mỗi vẻ, nhưng nhất vẫn là giờ khuya, mưa rơi, lạnh lẽo, cô quạnh, da diết buồn.
Hồi xưa, ngủ rừng, tiếng mưa sa trên vòm lá không tầng, Kiên hay mơ thấy Hà Nội mùa đông đêm tối trời, suốt đêm gió thổi, mưa rơi, lá rụng. Bây giờ, đứng bên cửa sổ lặng nhìn màn mưa giăng mờ mặt phố, anh bất giác mường tượng cảnh rừng mưa âm vang mênh mang buồn đại ngàn năm xưa vươn qua biển mái nhà, tràn lên tiếng rì rầm phố xá canh khuya, dội triền miên như sóng vỗ, như ký ức xô bờ...
Năm ấy, ở Hà Nội xuất hiện mùa xuân giả. Ban ngày nắng hửng trời quang, không gian thoáng đãng êm ả như tháng tư, tháng năm. Các hàng cây trụi lá đông đã xanh rì lá mới, không còn vẻ tiêu điều. Công viên bừng rộ hoa nở, chim di trú trở về. Thế nhưng thời tiết kì thực còn lâu mới vượt khỏi khúc quanh tăm tối. Khoảng xế chiều, da trời xám ngắt, gió lạnh lùa dọc phố, mưa phùn lại rơi, nỗi nao buồn. Phương đã bỏ ra đi đầu mùa đông. Không thư từ, như quyết một đi không trở lại. Cửa phòng nàng im lìm khóa trái, im như không bao giờ mở ra nữa. Lần đầu tiên kể từ ngày gặp lại sau chiến tranh, Phương dứt khỏi anh đột ngột, đau đớn, độc địa. Kiên rộc đi. Nhìn gương, giật mình: tóc tai râu ria, hốc mắt gò má nhăn nheo, vẻ suy tàn... Giọng nói lạc khác, nặng nề buồn phiền. Cái nhìn chằm chằm, chẳng nhìn gì, trống rỗng, vô cảm...
Bấy giờ, Kiên chán ngấy nền học vấn, thôi không đến lớp, lặng lẽ vô cớ kết liễu cuộc đời sinh viên suôn sẻ. Sách vở chẳng buồn, báo chí không đọc, mọi lẽ đời để buông xuôi. Sống hoàn toàn không hay chớ. Dửng dưng, thờ ơ, thu mình trong vỏ, chẳng chơi bời, chẳng thiết tha trò chuyện. Mặc kệ cạn tiền liên miên, Kiên nhậu rượu, hút thuốc không ngừng. Dẫu kém chịu rét, dạo đấy ham đi lang thang trong khuya, rất ít ngủ. Những giấc ngủ nặng trịch như đổ chì.Trong mơ thi thoảng thoáng thấy Phương, thường chỉ rặt mộng điên rồ, dễ sợ biến tướng cô đơn, nỗi đa sầu. Đôi khi ác mộng rợn người, kinh khủng như thuốc độc. Vô vàn ám ảnh từ đời nào trong chiến tranh tưởng yên ngủ lâu, được truyền phép ma thức dậy. Tâm hồn mỗi ngày thêm hoang phế, tranh tối tranh sáng, vật vờ toàn hồn ma bóng quỷ.
Vào những đêm xuân giá rét ấy, những cô hồn thân thuộc lên tiếng thì thầm trò chuyện, rên rỉ, thở dài. Các tử thần xanh tái lỗ chỗ vết đạn cúi xuống soi bóng vào giấc ngủ Kiên. Đã bao đêm Kiên thức, vật vã dụi sàn, nước mắt ướt mặt, run lạnh, khiếp đảm, tê dại, nôn nao thương thân não nùng, vô duyên cớ. Ngoài cửa sổ, gió bấc rít dài, mưa vỗ ràn rát mái hiên. Kiên quờ tìm công tắc, nhưng đêm ấy ngọn đèn chẳng sáng. Anh gắng quên Phương, cố hết sức. Chỉ dở là không tài nào quên nổi, vẫn âm thầm mong ngóng. Tất nhiên, anh biết, tất cả rồi sẽ trôi qua, chẳng vĩnh cửu trong thế giới ngày nay, kể cả tình yêu, nỗi buồn. Anh cũng biết giằn vặt, khổ sở mình nhỏ bé vô nghĩa, tà khói mong manh. Song...
Người ta kể rằng, mùa xuân năm ấy, đêm nọ, Kiên dắt về phòng ả "cà phê xanh", hồ ly tinh nổi tiếng vùng bờ Thuyền Quang, Bẩy Mẫu. Suốt đêm, họ chẳng ngủ, không làm tình, chỉ uống rượu, hòa hợp mê mụ. Đêm lạnh ngang đại hàn. Kiên đi bộ qua hồ Hoàn Kiếm.Trong bóng tối, góc hồ, gã đàn ông rút dao găm, Kiên xô gã nhào xuống rãnh, chặn xích lô, đưa cô gái lên xe, phóng tạt trước cảnh sát ập tới.
- Anh giai biết em gái là đứa thế nào không mà dám mời vào vòm?
Anh bật đèn, cô bé cười dọa. Mười chín tuổi, nhỏ nhắn, ngang tàng nhưng xanh xao phờ phạc, ăn mặc phong phanh, rõ ràng đói. "Anh giai ra đòn siêu thật. Chưởng ấy phải mấy ngàn, tuy rằng đánh trộm. Đêm nay coi như anh khỏi phải chi gì thêm..." Cô không nói hết câu. Dù sao, không thể không nhận ra nhau. Cô tái người, run rẩy. Kiên lục chạn, chỉ còn nửa nồi cơm nguội, chút mỡ. Châm bếp dầu, rang cơm. Ăn xong, uống trà, hút tàn thuốc, lẳng lặng tới bên giường, cởi quần áo, cười gượng. Khi cúi xuống lột manh áo lót, mảnh lưng ốm yếu trắng xanh sởn gai ốc, trồi từng đốt sống. Liếc Kiên e lệ, cười nhợt nhạt, nhút nhát, ruồi mình vào chăn, miệng thốt rên khoái cảm ấm áp, đê mê, thư giãn. Đoạn cô thiếp đi. Khi chợt mở mắt, thấy Kiên vẫn ngồi bên bàn hút thuốc.
- Em hút mấy, anh...!
Kiên châm điếu đưa cô. Ngồi xuống bên giường. Thời gian tích tắc lặng trôi, im lặng chịu dựng nỗi oái oăm bất hạnh. Kiên chẳng nhớ tên cô, cô cũng vậy. Không biết nói gì, nói gì cũng chạm đau, khía vào nhục nhã, ê chề, báng hổ. Ký ức dần xích họ lại. Ký ức chung về Vĩnh, anh trai cô, bạn cùng trung đội trinh sát Kiên thuở nào, đã nằm lại chân đèo Ma Đơ Rắc. Ký ức buổi chiều mùa hè sau chiến tranh, Kiên mang di vật Vĩnh đến thăm gia đình cô. Xóm nhỏ ven thành phố đói nghèo thảm hại, giữa vùng dở đầm lầy, bãi rác. Lũ trẻ ốm o rách rưới, đàn chó bẩn, ruồi muỗi, mùi hôi thối kinh hồn, gió tanh tưởi. Nhà cô như mọi nhà khác, nhếch nhác, tối tăm, chằng đụp. Cô bé mười lăm tuổi, nước mắt lưng tròng, thút thít sụt sịt dỡ đồ trong ba lô Vĩnh ra cho bà mẹ mù lòa rờ rẫm vuốt ve. Bộ quần áo lính tàng nát, mũ tai bèo, con dao xếp, bát sắt, cây sáo trúc nứt toác, cuốn sổ tay. Khi Kiên cáo từ, bà cụ đưa tay khô gầy rờm lên má anh:
- Biết làm sao được hả con... Mọi sự đều có "duy vật" cả. Em nó không về nhưng các con về...
Mẹ mất ngay năm ấy, em bỏ nghề rác, xóm rác không còn, chỉ bãi rác... Cô bắt đầu kể, Kiên bắt đầu kể. Những kỷ niệm buồn ngắt. Mãi đến tảng sáng, cô hé chăn, kéo tay Kiên, cười yếu ớt "Đời ơi là đời!"
- Không - Kiên nói - Đừng...
- Nhưng... Anh đã đánh nhau vì em.
Kiên lắc đầu. Hôm ấy, có sẵn tiền, Kiên dốc hết cho cô, cộng thêm năm vé xổ số. Cô bật cười hì hì. Anh tiễn cô đi đoạn phố. Đến hồ Hoàn Kiếm, cô bảo:
- Thôi. Anh lặn đi. Em cũng lặn đây. Không đời nào nó thấy nó lại chửi anh. Em sẽ nhớ anh mãi.
Anh buồn cười. "ừ" - Kiên nắm nhẹ tay cô - "Em đi nhé!" Định nói thêm, nhưng chẳng biết nói gì. Cô rút tay, quay đi. Kiên nhìn theo, khô cằn, già nua, bất lực, tầm thường. Chẳng biết dùng đời mình vào chuyện gì. Việc học, thành đạt, đường tiến thân, tất cả trở thành bèo bọt. Nhưng kế sinh nhai tạm bợ, anh chẳng màng. Vẫn sống, tồn tại, nhưng sâu xa tinh thần, Kiên đã đầu hàng trước không gì của cuộc đời, số phận.
Chính lúc ấy, mùa xuân sôi sục bầu không khí hừng hực chủ nghĩa anh hùng, nhiệt tình ái quốc. Chiến tranh đến nơi, sắp có bước ngoặt, đột biến mọi cuộc đời. Những người tưởng biết rõ Kiên khuyên tái ngũ. Binh nghiệp muôn năm, người lính luôn giá, họ bảo. Ngoài phố, trên tàu điện, xe buýt, quầy hàng, công sở, tiệm cắt tóc, quán nhậu, thiên hạ mê mải tin thời sự súng đạn. Cảm giác ngay cả cặp ôm nhau bên Hồ Tây trong gió mưa rét cũng thủ thỉ sự tình hai biên giới. Đêm đêm, tàu tốc hành quân lính trẩy qua thành phố. Xe tăng, đại bác xếp dọc toa sàn, toa đen đầy nghẹt bộ đội. Từ cửa toa, mùi mồ hôi lính quen thuộc, gian khổ, tuổi trẻ trĩu nặng lửa đạn, đói rét, sương gió. "Cảnh tượng y hệt mười lăm năm trước, thuở 64, 65 đầu thời đánh Mỹ" - ông thị dân sang trọng tấm tắc. Dĩ nhiên, bây giờ ta mạnh hơn, hùng tráng, chắc thắng gấp bội.
Có lẽ như thế thật. Kiên do dự. Đánh nhau phải đánh, không còn cách, nhưng dù sao trai đất Việt không ham chiến trận, hăng chiến là mấy ông trí thức tuổi sồn sồn bụng to chân ngắn. Dân chúng, cơn binh lửa vừa đủ đau thấu ngàn năm. Tuy nhiên, có thể bởi đối với Kiên muôn thuở chỉ có một cuộc chiến tranh, mãi mãi đè nặng, ám ảnh, nguyên nhân mọi khúc đoạn đời anh, kể cả hạnh phúc, đau khổ, niềm vui, nỗi buồn, tình yêu, oán hờn.
Với anh, ấy là cuộc chiến tranh cuối cùng. Dẫu sao, sự nghiệp thiêng liêng đau khổ người lính chống Mỹ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên như lời trăn trối.
Kiên hiểu rõ sứ mệnh đời mình là đến ngày nói lên nội dung lời trăn trối, dù chẳng mang lại gì cho đời sống hiện tại. Chính mùa xuân năm ấy, đất nước mấp mé bên bờ chiến tranh, Kiên trải qua bể dâu tâm hồn. Cái gì lớn lao, trọng đại chưa hoàn toàn hiểu, chưa đủ năng lực gọi tên, đồng thời sụp đổ, tái sinh toàn bộ con người anh. Có thể là tình yêu, tin lành, sự thú nhận chân lý?
Chính mùa xuân chiến tranh ấy, đêm giá rét, Kiên viết thiên truyện đầu tay. Kiên nhớ, đêm ấy dưới tầng một, Trần Sinh, bạn học anh, Phương, đang hấp hối. Sau thời gian dài nằm viện, Sinh về nhà chờ chết. Hơn hai ngày hôn mê, chưa ngừng thở. Đi bộ đội sau Kiên, bị thương, giải ngũ trước. Ban đầu, Sinh chống gậy nhúc nhắc, sau phải nằm bẹp. Bác sĩ lấy làm lạ, vết thương cột sống kinh khủng không lượm Sinh ngay, nấn ná lâu. Y học bó tay, càng chữa càng khổ, thân nhân điêu linh. Bốn năm ròng, bố mẹ Sinh qua đời, anh trai có gia đình.
Phòng tầng một, sâu cuối hành lang, tối tăm, ẩm thấp, cửa sổ hướng trực diện nhà vệ sinh. Kiên đẩy cửa bước vào. Trong buồng mờ tối, hai đứa bé, chị dâu Sinh, hí húi cắt dán hộp bìa xí nghiệp bánh kẹo. Không ai ngẩng lên.
- Anh ấy thế nào rồi? - Kiên khẽ hỏi.
- Vẫn thế, còn thở - chị dâu ngán ngẩm - Ai đến thăm cũng chịu chú ấy giỏi kéo dài.
Chị thở dài. Người ốm nằm chõng tre kê giúi xó.
Kiên lại gần. Mùi hôi thối lợm giọng. Chăn chiếu bẩn thỉu. Đầu Sinh trụi tóc, đen sạm, quắt queo. Mũi dẹt lét, chỉ còn sống mảnh. Môi má chẳng thấy, chỉ hàm răng, hố mắt. Kiên cúi hỏi:
- Nhận ra mình không Sinh?
Vẫn nhận ra, chị dâu nói chõ tới, chẳng nói nổi, chỉ có hơi.
- Có ăn uống được gì không?
- Vẫn, nhưng tự tháo ra hết. Vậy mà gượng. Khổ lắm thay!
Kiên ngồi ghế bên chõng. Chẳng biết nói gì, ngồi mười, hai mươi phút. Nhìn kỹ, tấm chăn chiên nâng hạ theo nhịp thở. Im ắng. Thỉnh thoảng chị dâu lẩm bẩm. Huấn, anh trai Sinh, ngáy trên gác xép, chếch bên trên chỗ Sinh.
Khác nhiều người nan y, Sinh không dối mình, không rên rỉ, than thân, trách phận, cố không làm rầu lòng người, không trút nỗi bất hạnh sang bạn. Khuôn mặt xanh lướt, cố rạng rỡ, anh cố mỉm cười, dịu dàng, yếu ớt, chủ động kéo Kiên vào hồi ức học trò, kỷ niệm cô bạn học, thầy cô giáo, chuyện lảng xa cảnh ngộ, rồi với vẻ chăm chú, ngạc nhiên, say mê, hiếu kỳ, đầy tin tưởng, anh thẩm thì: "Thế kia à? Tuyệt thật... Thú vị nhỉ... Oà, cô ấy là như vậy đấy, đáng yêu thật... à, mình nhớ ra rồi, chà, chuyện đó mới thực là nhộn..." Kiên đẩy xe lăn đưa Sinh ra vãn cảnh vườn hoa bệnh viện. Chiều hè yên ả, không khí thoáng đãng. Tia xiên khoai màu hồng chiếu dài thảm cỏ xanh um. Kiên dừng xe dưới cây bồ đề.
- Nắng chia nửa bãi chiều rồi... vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu... Đấy, thơ thế mới là thơ chứ. Sinh mỉm cười, mắt nheo nheo - Vậy mà mình đây đã từng ôm mộng thành nhà thơ. Đi lính định bụng trở thành Lê Anh Xuân, tạc vào thế kỷ. Đấy ước mơ thế đấy... Còn hồi trước, thú thực mình đã làm khối thơ tình tặng Phương, chỉ hãi cậu biết cậu đấm cho thì khốn."
Rồi im lặng. Chẳng phải nói gì. Hai người bạn thời niên thiếu, sau năm dài trận mạc, giờ đây trong hai cảnh ngộ, thầm lặng nói với nhau bằng nỗi lòng, cùng nhau trầm tư nhớ chuyện xa lắc, ngày xưa.
Kiên đưa Sinh về giường, cáo từ. Ôm vai Sinh, hôn má gầy hóp hạnh như đồng.
- Thỉnh thoảng vào với mình nhé, Kiên ơi... thỉnh thoảng nhé - Thương thân, bi thiết, nín mãi không gượng nổi, Sinh bật nức, nghẹn ngào - Lắm lúc nghĩ cay cực khôn cùng. ước gì có cách nào tự chết ngay cho chóng. Thân phận thằng bị thương như mình bị chiến tranh đoạt mất tự do có khác nào nô lệ...
Kiên đưa tay bưng mặt, không chịu đựng nổi, bật đứng dậy, bước vội ra khỏi căn buồng nửa nhà mồ, không kịp chào chị dâu. Trở lên phòng, không cởi áo bông, nằm ngửa giường, gác đôi giầy lên chiếu. Vòng tay dưới gáy, trừng trừng nhìn trần nẻ rạn, vàng. Lặng lẽ nước mắt ứa ra, nóng rực, đau nhói. Đi đâu bây giờ? Làm gì bây giờ?
Anh bật ho như buột rên nỗi day dứt giằn vặt, khó hiểu, ám mãi.
Kể ra, sau chiến tranh, anh từng có cảm giác hạnh phúc, ấn tượng hạnh phúc ngày trở về. Hơn ba ngày đêm rong ruổi dọc đường sắt Xuyên Việt cuối mùa thu 1976, chút niềm vui vớt vát đời bộ đội. Tuy nhiên nhớ lại vẫn thấy đau trong lòng. Trên tàu Thống Nhất, toàn thương phế binh, lính về vườn. Ba lô ken dày, võng chăng dọc ngang, biến đoàn tàu thành bãi khách. Tâm trạng chung khá chua chát. Không kèn, không trống, không khúc khải hoàn, chẳng đối xử có trước có sau, người ta lục lọi săm soi túi cóc, ba lô tuồng như cho rằng núi của cải miền Nam sau giải phóng bị hư hao, xâu xé, tranh đoạt bởi anh bộ đội chứ không ai khác...
Tại ga, loa phóng thanh oang oang dạy bảo trớ trêu: chống cầu an, chống đạn bọc lường, chống thói đam mê tàn tích phồn vinh giả tạo, chống tư tưởng công thần. Anh em biến khó chịu thành chuyện đùa, giễu cợt, tiếu lâm. Hai bên đường sắt, quang cảnh thân yêu đồng bằng sông Hồng, ai nấy như bơi niềm hạnh phúc. Bao ước mơ chôn giấu đào sâu giờ thỏa sức cất lời. Mê mải, trong lòng dự định tươi hồng phi lý cuộc sống bắt đầu hòa bình vĩnh viễn.
Ngày cuối trên tàu, Kiên làm thân với Hiền, chiến sĩ mặt trận khu 9 đi B từ 66, quê Nam Định, giọng ăn đậm chất Hà Tiên. Đêm, Kiên bế Hiền sang võng mình. Suốt đêm, lính tráng đùa cợt, hai người ôm xiết ngủ, nói mê, thức dậy ôm chặt, thỏa sức hôn, sống gấp. Khi tàu dừng Nam Định, Kiên dìu Hiền xuống sân ga. Anh chực bỏ chuyến để đưa Hiền về, nhưng cô cười gạt:
- Thôi mà. Cho thành tro mọi chuyện. Vương vấn làm gì. Mà anh cần về gấp xem cửa nhà, xem còn gì cho ngày mai sống tiếp, biết đâu có ai đó chờ đợi mình không? Biết đâu sẽ gặp lại nhau chứ?
- Đời hòa bình biết nông sâu thế nào, anh. Có phải còn chiến tranh, còn trong bộ đội đâu mà bảo sẽ một điều gì. Thôi, mai rày có nhớ nhau cứ cậy vào run rủi...
Hiền quay đi, khó nhọc lết tới cửa ga. Hai vai tỳ nạng gỗ, thân hình mềm mại lệch nghiêng, phướn lên, đu người tới từng đoạn, bả vai nhô cao. Gần khuất sau cổng đông nghịt, Hiền chợt ngoái đầu, đôi mắt đen trong sáng, sâu thẳm nỗi buồn, tâm trạng tan hoang bi đát. Cô loạng choạng, lúng túng cất bàn tay vẫy vẫy Kiên, gượng nụ cười, quả quyết quay đi biến mất.
Từ đấy, về tới Hà Nội, đầu tàu hân hoan thúc còi reo vui lanh lảnh: hạnh phúc, hạnh phúc... Càng về gần, Kiên càng choáng váng, đê mê cơn sốt nhẹ, tim đập rộn, xúc cảm bình yên, mắt mờ lệ. Trời đã tối khuya khi từ ga Hàng Cỏ về nhà.
Phố phường im ắng. Anh bước vào sân. Ngôi nhà tối sẫm. Gia đình ngủ cả, nhưng cánh cửa đầu cầu thang không hiểu hôm ấy sao không cài then, hé chờ anh. Đúng là không ai đợi, không ai, Kiên biết... nhưng biết đâu đấy! Anh bước lên cầu thang, lòng thắt lại linh cảm sự bất ngờ lặng nín đón rình. Dưới ánh đèn vàng vọt, hành lang mờ tối, cánh cửa căn phòng cha con vẫn nguyên màu nâu thùa xưa, tấm biển đồng nhỏ khắc tên cha anh. Mờ mịt, chao đảo, Kiên đứng cơ hồ không vững, run. Hạnh phúc, nước mắt thầm lặng dào tuôn.
Chợt tiếng cửa kẹt mở. Từ căn hộ giáp phòng anh, người phụ nữ thân hình dong dỏng, bận chiếc áo ngủ sáng màu, bước nhẹ ra hành lang. Nàng nhìn anh. Tiếng kêu câm lặng ánh mắt. Kiên rùng mình, toàn cảm giác xô nghiêng. Năm tháng dài lâu thu lại chớp mắt. Nàng bứt khỏi ngưỡng cửa, ngả người, bước lướt tới. Kiên hơi cúi xuống. Rất nhanh, mềm mại, tuyệt trần, hai cánh tay nàng choàng quấn lấy cổ anh.
- Kiên!
- Phương... Em!
Mười năm trời, cái hôn dài. Cái hôn bất tuyệt thấu tim, mãi mãi mỗi người còn phải nhớ, chưa bao giờ, sẽ không bao giờ cả hai hưởng tột đỉnh cuộc đời như thế. Nàng khẽ cọ má vào môi anh, lặng lẽ áp mặt vào ngực áo bộ đội thô ráp anh.
- Phương ơi... Vậy mà - Kiên thì thào - mười năm qua anh nghĩ em không còn sống.
- Vậy ra... chúng mình đã thành hồn ma trong nhau... bởi e ai cũng nghĩ thế...
- Nhưng thôi, thế là từ nay không bao giờ chúng mình rời xa nhau nữa, phải không em?
Tuy nhiên, anh cảm thấy xung động rối ren giữa niềm hạnh phúc vô bờ lẫn hoang mang, bấn loạn từ tấm thân yêu kiều trong vòng tay. Anh cắn răng, nghe dường như có bước chân rón rén nào đó, ai đó đang chứng kiến anh với Phương gặp gỡ. Phương mở cúc áo, chiếc chìa khóa phòng anh đính sợi dây chuyền, lấp lánh như cây thập ác nhỏ trên ngực nàng để hở. Mắt mờ đi, Kiên mở khóa, đẩy cửa ra. Bầu không khí trong căn phòng đã khép kín ùa ra, bao bọc lấy anh như làn hơi thở cuối cùng cuộc đời yêu dấu xa xưa.
Đột nhiên, Kiên chộp lấy khuỷu tay Phương, như thể sắp dùng sức đưa nàng vào. Anh thoáng thấy bóng người đứng bên trong cánh cửa phòng hé mở. Gương mặt Phương trắng bệch, cái nhìn lả đi. Nàng bước theo anh. Chỉ một bước, một giây, Kiên cảm thấy Phương đang trì ngón chân xuống ngưỡng cửa. Anh buông nàng, cúi xuống, nhặt ba lô ở ngạch cửa, một mình bước vào phòng. Khép cửa.
Chao ôi! Như vậy đấy: hòa bình, hạnh phúc, ánh huy hoàng chiến thắng, ấn tượng êm dịu ngày trở về, niềm tin đắc thắng tương lai... Tội nghiệp thằng bé. Mỗi lần nhớ đêm đầu tiên cuộc đời mới sau chiến tranh, lòng Kiên đau nhói, chua xót, không thể rên lên.
Kiên vùng bật dậy, không ngừng đi lại trong phòng. Cuộc chiến tranh thần thánh đã bù đắp mất mát bằng đời sống như hôm nay. Sau chiến tranh, chẳng còn gì trong đời anh. Chỉ còn mộng mị hao huyền. Sau chiến tranh, Kiên dường như không sống, bị mắc kẹt lại trên cõi đời. Thẫn thờ, anh ngồi xuống ghế. Bao hình ảnh dồn dập. Không. Cứ nói số phận không cho lời mách bảo, song cái đêm đầu tiên ấy chẳng là lời mách bảo hay sao? Nhưng cả anh, cả Phương đều cưỡng lại. Để làm gì?
Ngay đêm ấy, Phương sang lại với anh. Người đàn ông nàng chung sống định cưới nàng, bỏ ra đi lập tức. Mù quáng biết chừng nào, anh và Phương?
Dù dầm mình trong rượu, hàng trăm lần tự cầu lòng mình lặng yên, trong tâm Kiên vẫn nhói đau hồi tưởng tan nát thời sống cùng nhau sau chiến tranh. Mảnh đời còn lại sau mười năm lửa đạn bị tình yêu xéo nát. Cuộc chung sống làm đổ bể tâm hồn, cuộc đời nhau mới chấm dứt. Trong cuộc xô xát quán rượu, Kiên đánh trọng thương tình cũ Phương. Từ đồn công an, nơi tưởng anh là thằng điên, Kiên mò về gặp Phương. Chẳng nói gì, chỉ trào nước mắt. Ký ức chẳng buông tha.
- Phương nói khi bỏ ra đi - Không phải hạt sạn, là quả núi. Lẽ ra lần ấy em nên chết đi... như thế em vẫn là cái gì tốt đẹp, trong sáng đối với anh. Còn bây giờ em sống, sống cạnh anh nhưng em là vực thẳm xấu xa, đen tối đời anh. Phải không Kiên?
Kiên không cản. Anh nghĩ nên như thế. Song thái độ cứng rắn chốc lát dễ, duy trì khó. Một tuần, hai tuần, hàng tháng trôi qua. Anh không thể đến trường đại học. Không biết ngồi, nằm, nhìn đâu, đi đâu. Tiếng giầy cao gót lên cầu thang, tim ngừng đập. Giờ này qua giờ khác, đứng bên cửa sổ, mắt nhìn đăm đăm xuống đường. Đi dọc phố chốc chốc ngoái đầu nhìn lại sau, nỗi hồi hộp lố bịch. Đôi khi giữa đêm, lòng tràn tuyệt vọng, nấc lên, nước mắt giàn giụa, phải thúc mặt vào gối cho đến ngạt thở...
Anh biết chỉ có biện pháp duy nhất thoát khỏi yếm thế thê thảm là Phương trở về, được nhìn thấy nàng, cùng nhau lặp lại nỗi thống khổ...
Trong phòng ẩm ướt, càng lúc càng lạnh. Gió cào ô cửa. Trên bàn, ấm trà đã pha, chẳng uống, nguội lạnh. Mấy cuốn sách, tập giấy, cây bút, lọ mực, gạt tàn, bình hoa với mấy bông hồng đã nguội ngắt. Chính đêm ấy, mùa xuân năm ấy, Kiên cảm nhận thiên mệnh đời mình: sống ngược trở lại, lần tìm con đường tình xưa, chiến đấu lại cuộc chiến đấu. Tất nhiên anh chưa nghĩ ngay thiên mệnh, nghĩ là lối thoát. Kể lại, viết lại làm sống lại linh hồn mai một, tình yêu phai tàn, bừng sáng giấc mộng xưa. Đó là con đường cứu rỗi Kiên nghĩ. Đến tận bây giờ, có thể mãi mãi, Kiên không thể cắt nghĩa vì sao đêm ấy, đứng trước cửa sổ nhìn màn mưa mỏng chầm chậm tràn ngang bầu không khí xanh xám run rẩy, uốn ngả theo chiều gió đông bắc, lòng nhớ Phương, anh lại nhìn thấy mùa mưa Cánh Bắc, nhìn thấy Ngọc Bơ Rẫy, truông Gọi Hồn. Vì sao? Lại gương mặt từng anh em hiện lên. Phép mầu đẩy lùi thời gian về xa hơn, dựng lại trước mắt trận đánh ghê rợn xóa sổ tiểu đoàn 27 anh.
Không khí phòng kỳ lạ, rung lên, xô giật, đập thình thình do sóng xung kích đạn pháo dội cấp tập truông Gọi Hồn. Tường vách rung rầm do động cơ máy bay bổ nhào. Kiên giật mình, bật lùi khỏi cửa sổ. Hồn phách xiêu lạc, ý thức mê mẩn, Kiên đi đi lại lại, ký ức lóe chớp. Loạng choạng, ngồi xuống bên bàn, cầm bút, thay vì thư, viết cái hoàn toàn khác. Suốt đêm đến sáng, giữa đồ đạc, bàn ghế tồi tàn, bốn bức tường tróc lở, sách báo chồng sàn, vỏ chai lăn lóc, tủ đầy gián, giường xiên vẹo, chăn màn xơ xác, Kiên viết trọn vẹn thiên truyện đầu tiên đời mình, sống dậy trận tử chiến truông Gọi Hồn, diễn biến nặng nề, số phận bi thảm tiểu đoàn anh. Tay mỏi tê, run, tim như rách dần, hai buồng phổi nghẹt khói thuốc, miệng khô đắng, cổ tắc nấc, cắm đầu viết. Quanh anh, tiếng kêu, la hét đau đớn, đạn ríu rít sát mang tai, gầm giật chùm rốc két từ trực thăng. Nhân vật gục ngã nối nhau. Đến nhân vật chính, người trụ lại đoạn hậu rút lui đã hóa giẻ nát trên bờ công sự chết. Ngày xuân thành phố đã vào góc tối nhất phòng. Tác giả cạn sức. Chếnh choáng, lần ra khỏi nhà, lê bước vỉa hè, xiên đảo, mê tơi như cô hồn lang thang đi phơi nắng. Khối cảm giác nóng bỏng căng nhức hồi đêm dẫu dịu, tâm Kiên hình như không thể bình quân. Anh có cảm giác như bị thương mất máu, ngất đi, vừa tỉnh lại trên bãi chiến trường.
Thế giới trước mắt anh cơ hồ đã đổi khác. Chỉ sau đêm kỳ ảo, đường Nguyễn Du sắc nét, trang nhã, hồ Hoàn Kiếm trong lành, thân thuộc bỗng không còn như hôm qua. Cả tâm hồn anh, anh không còn nhận ra nổi. Bầu trời buổi sớm, cụm mây lững thững trôi miền đông bắc quang đều nhuộm sắc màu khác biệt. Những nóc nhà xám xỉn, lóng lánh trong nắng mai nom vừa vớt lên từ dưới nước.
Suốt ngày chủ nhật, như người ngây, Kiên lang thang phố. Niềm vui buồn thảm tựa bình minh pha trộn ánh hoàng hôn, soi chiếu suy nghĩ Kiên. Toàn cuộc sống bấy lâu được rọi sáng ngược chiều thời gian. Mối bận tâm, niềm đau khổ, xót xa cay đắng lòng những năm gần đây trở nên tầm thường, nhợt nhạt. Kiên nghĩ chúng chẳng còn nghĩa lý gì. Kiên tin mình đã phục sinh, phục sinh lùi sâu xa, mỗi ngày một lùi, không ngừng phục sinh trong chuỗi tái hiện. Có vẻ anh đã tìm ra cuộc đời mới: cuộc đời đã qua, tuổi trẻ mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh.
Buổi chiều vào công viên, Kiên đi dọc lối sỏi um tùm cỏ, hoa, bước qua bụi cây đọng nước, tìm ghế đá bỏ trống gần trai gái đang tình tự, ngồi im giờ, nghe gió thầm thổi hồ. Con người nội tâm cô quạnh, âu sầu không hề cảm thấy gió lạnh chiều tà, lặng lẽ đưa mắt nhìn vượt khỏi tầm mắt, vươn tới cõi xa xăm ngoài biên giới tư duy, đạt tới cõi hòa đồng người sống, người chết, hạnh phúc, khổ đau, hồi ức, ước mơ. Mênh mang trời nước, hương sặc mùa xuân tươi sáng đượm sầu xao xuyến truyền lan theo sóng hồ. Trên vùng không gian tinh thần ấy, Kiên thấy hiện lên bí ẩn, khó giải thích đoạn đời, phong cảnh, hình ảnh, gương mặt đã lâu anh quên lãng. Sau đó, những đoạn đời khác, kỷ niệm khác, âm thầm chậm rãi duyệt lại quá khứ... Ký ức trưa mùa khô rực rỡ nắng, hoa nở đầy khoảnh rừng thưa... Ký ức ngày mưa gian truân bờ Sa Thầy vào rừng hái măng đào củ... những bờ suối, bãi lau, buôn nhỏ hoang tàn... những gương mặt đàn bà mến thương xa lạ gợi niềm nhớ nhung âu yếm... Mềm đau mối tình... Ký ức xa vời, trập trùng, lặng lẽ, khắc nghiệt, thẳm sâu như rừng núi trong lòng anh chiều ấy, chiều xuân lạnh lẽo sáng trong bên lề trống không trời nước, một màu làm tâm hồn không thể dừng mắt ở điểm nào trên cõi không cùng quá khứ.