Chương 776
Dương Dương cứu mẹ và căn bệnh cổ trướng
· Đọc chương này khoảng 4 phút
11 lượt đọc chương · 37.055 lượt đọc truyện
Những trường hợp như thế này không phải hiếm, nhưng hôm nay bác sĩ lại gặp phải một cậu bé vô cùng kiên quyết. Cung Tường Bân gãi đầu, không biết phải nói chuyện với cậu bé ra sao, bèn rút điện thoại ra: “Chú gọi điện cho ông bà ngoại của cháu nhé.”
“Chú đừng gọi cho họ. Cháu muốn hiến gan cho mẹ cháu.” Dương Dương vừa nói, nước mắt đã bắt đầu tuôn rơi.
Cung Tường Bân vội vàng rút khăn giấy lau nước mắt cho cậu bé: “Cháu khóc cái gì vậy?”
“Cháu không muốn mẹ cháu chết.” Dương Dương đứng trong văn phòng bác sĩ, ngẩng đầu khóc òa lên.
Tiếng khóc của cậu bé thảm thiết đến xé ruột xé gan, ai nghe thấy cũng không cầm lòng được. Đến cả các bác sĩ trong phòng cũng không kìm được nước mắt.
“Có kẹo không?”
“Tìm bánh quy đi.”
Các bác sĩ và y tá vội vàng tìm kẹo để dỗ cậu bé nín khóc.
Triệu Triệu Vĩ nhìn cậu bé khóc cũng thấy chạnh lòng muốn khóc theo, liền quay về phòng bệnh của mình, xem có tìm được món đồ chơi nào không.
Tạ Uyển Oánh lại bắt đầu suy nghĩ xem rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra, tại sao đột nhiên lại cho mẹ của Dương Dương xuất viện.
Mấy hôm nay đi kiểm tra phòng buổi sáng, sư huynh Đào cũng không hề thể hiện thái độ khác thường nào. Tuy nhiên, vì công việc bận rộn, các bác sĩ kiểm tra phòng buổi sáng thường khá vội vàng, có phần qua loa. Chỉ những bệnh nhân cần phẫu thuật mới được thảo luận trọng điểm trong nhóm nhỏ trước khi mổ. Vì vậy, có lẽ vì đây là khoa ngoại, nếu bệnh nhân như mẹ của Dương Dương chờ ghép gan mà không được, không thể phẫu thuật, thì hoặc là chuyển sang khoa nội điều trị, hoặc là chỉ có thể xuất viện, không thể tiếp tục chiếm dụng giường bệnh. Có lẽ phải đợi đến khi bệnh nhân đủ điều kiện phẫu thuật mới được nhập viện lại.
Thôi thì cứ đến phòng bệnh xem tình hình bệnh nhân rồi tính. Tạ Uyển Oánh suy nghĩ một lát rồi đi đến phòng bệnh của mẹ Dương Dương.
Vì không phải bệnh nhân của mình, bình thường cô sẽ không chủ động quan tâm, chủ yếu là sợ xảy ra xung đột với bác sĩ phụ trách giường bệnh.
Trong phòng bệnh, mẹ của Dương Dương nằm tựa nửa người trên giường, tinh thần tốt hơn nhiều. Tạ Uyển Oánh nghĩ, chắc hẳn bệnh tình có chuyển biến tốt thì bác sĩ mới cho cô ấy xuất viện.
Tạ Uyển Oánh đến gần nói với bệnh nhân: “Tôi có thể nghe tim phổi cho cô một chút được không?”
Mẹ của Dương Dương nhận ra cô, liền gật đầu.
Dịch cổ trướng đã được rút ra, bụng bệnh nhân không còn phình to như quả bóng nữa. Nhưng bệnh vẫn chưa khỏi, chắc chắn cổ trướng sẽ tái phát trở lại. Tạ Uyển Oánh chỉ cần nhìn rốn của bệnh nhân bị lồi ra là biết căn bản cổ trướng vẫn chưa dứt hẳn.
Nói đến cổ trướng, tên gọi chính xác hơn là tích dịch ổ bụng. Vì người bình thường có khoảng 200ml dịch ổ bụng, có tác dụng bôi trơn, giúp nhu động ruột hoạt động tốt. Nếu vượt quá 200ml thì được coi là bất thường, là tích dịch. Chỉ là cả người dân lẫn bác sĩ đều đã quen gọi là cổ trướng.
Có rất nhiều nguyên nhân gây tích dịch ổ bụng. Phổ biến nhất là cổ trướng do gan, tức là gan gặp vấn đề dẫn đến cổ trướng.
Các nguyên nhân khác có thể do tim, do thận, viêm phúc mạc, hoặc các bệnh toàn thân khác, v.v.
Đối với cơ chế cổ trướng do xơ gan như của mẹ Dương Dương, giới y học thường đưa ra hai học thuyết. Một là học thuyết cổ điển, cho rằng sự tăng áp lực tĩnh mạch cửa, giảm albumin huyết thanh và tắc nghẽn hồi lưu bạch huyết là nguyên nhân dẫn đến cổ trướng. Học thuyết còn lại là học thuyết tràn dịch, chỉ tình trạng giữ nước và natri hình thành cổ trướng mà không liên quan đến các nguyên nhân đã liệt kê ở trên. Học thuyết thứ hai được hình thành là vì trên lâm sàng, một lượng lớn bệnh nhân không có các đặc điểm như tăng áp lực tĩnh mạch cửa và giảm albumin huyết thanh.
Hai học thuyết này dường như mâu thuẫn lẫn nhau. Sau đó, các bác sĩ cho rằng, đa số bệnh nhân ở giai đoạn đầu phù hợp với học thuyết cổ điển, còn giai đoạn sau lại biểu hiện theo học thuyết tràn dịch. Như vậy, hai học thuyết này là biểu hiện của bệnh tình ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Theo lý thuyết, mẹ của Dương Dương thuộc giai đoạn học thuyết tràn dịch, việc giữ nước và natri có liên quan đến sự mất cân bằng của hệ thống renin-angiotensin và hệ thống giao cảm-thượng thận.




Bình luận chương