Long Hương Bát - Tú Miêu
Thôi Tiệp Dư nhận nghĩa nữ và Lý Linh Quân ghé thăm
Long Hương Bát - Tú Miêu thuộc thể loại Linh Dị, chương 15 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.
Cổ chân bỗng bị hơi thở phì phò phả vào làm nàng ngứa ngáy, Hoàng Phủ Nam cúi mắt nhìn xuống, thấy con chó tuyết trắng giống chó Phức Lâm đang lăn lộn dưới vạt váy nàng. Bốn chân nó cào cào lên tấm thảm nhung đỏ dày mềm, rồi nhẹ nhàng luồn vào dưới ghế dựa, dùng mũi hích hích dải tua châu ngọc rủ xuống từ mép ghế.
Trên thềm đá phía tây, Thôi Tiệp Dư tay cầm một cây cung sơn đỏ nhỏ nhắn tinh xảo, đứng thướt tha dưới ánh nắng. Bên ngoài, một giá đỡ cao đặt một mâm vàng.
Sau Tết Đoan Ngọ, Hoàng thượng sẽ dẫn các cung phi đến Bích Kê Sơn săn bắn, nên Thôi Tiệp Dư đã bắt đầu luyện tập từ trước.
Nàng ngắm kỹ một hồi, rồi buông tay, mũi tên nhẹ nhàng rơi xuống thềm đá. Vốn chẳng có hứng thú với cung tiễn, Thôi Tiệp Dư lập tức mất hứng, trao cây cung sơn đỏ cho cung nữ, rồi quay người bước vào điện.
Hôm nay nàng ăn vận phóng khoáng: áo ngắn tay, áo khoác tay lỡ, bên dưới là quần cưỡi ngựa kiểu võ tướng, màu đỏ lựu. Con chó Phức Lâm từ dưới thềm nhảy lên, ngậm mũi tên vừa rơi xuống mang về đặt trước chân nàng. Thôi Tiệp Dư cúi người bế nó lên, vuốt ve, miệng cười nói: “Giống chó này là do Ngạc Quốc công mang về khi chinh phạt Cao Xương, biết dắt dây cương, biết ngậm chân đèn, lại còn biết giữ đèn, thông minh lắm.”
Hoàng Phủ Nam đáp: “Là nhờ Tiệp Dư dạy dỗ khéo.”
“Chó mèo cũng như người vậy, dẫu giống có quý hiếm xinh đẹp đến đâu, không dạy thì cũng vô dụng.”
Cung nữ mang mâm vàng đến đặt lên án thư, trong mâm là bánh chưng nếp vàng ươm ngâm nước tro ngải, và những chiếc bánh bột màu xanh ngọc. Thôi Tiệp Dư chọn một chiếc bánh chưng, bóc từng lớp lá sậy ra, rồi đưa đến trước mặt Hoàng Phủ Nam. Một làn hương nồng nàn từ ống tay áo nàng thoảng bay ra.
Hoàng Phủ Nam từ chối: “Xin Tiệp Dư dùng trước.” Rồi giải thích: “Hồi ở Ích Châu, thiếp không ăn bánh chưng, mà là bánh hấp, rồi ăn lê.”
Thôi Tiệp Dư đáp: “Ích Châu là nơi sản sinh ra mỹ nhân. Trước kia trong cung từng có một phi tần họ Vi cũng là người Ích Châu, về sau mắc bệnh rồi qua đời.”
Nói xong, nàng ôm cây đàn Nguyễn* vào lòng, ngón tay thờ ơ gảy vài dây. Tính tình nàng phóng khoáng, cưỡi ngựa, gảy đàn đều chẳng giỏi, nhưng nét tươi sáng trên khuôn mặt thì lúc nào cũng rạng rỡ ánh lên.
*tên của một loại nhạc cụ truyền thống Trung Hoa
Lúc này, một cung nữ bước vào, báo cáo: “Hôm nay Hoàng thượng mở yến tiệc tại điện Lân Đức, mời sứ thần Thổ Phiên thưởng thức nhạc vũ, đồng thời ban tặng một bộ nhạc Quy Tư, và một bản Kim Cương Kinh cho Thổ Phiên.”
Thôi Tiệp Dư không biểu lộ cảm xúc gì, lại quay sang Hoàng Phủ Nam: “Bệ hạ vốn không ưa Ích Châu, từ sau năm cuối niên hiệu Thánh Vũ, chỉ cần nghe đến cái tên đó thôi cũng đủ nổi giận.”
Nàng luôn miệng thốt ra những lời bất ngờ, thấy sắc mặt Hoàng Phủ Nam thoáng sửng sốt thì càng đắc ý: “Tài cán của Thục vương cũng chẳng phải là xuất sắc gì, ngoài ra còn có Ngô vương, Tấn vương, Tề vương nữa…”
Lúc nhắc đến các phiên vương, sắc mặt Thôi Tiệp Dư hờ hững. Còn trong lúc đêm khuya nằm bên gối rồng, không biết nàng đang toan tính điều gì nhưng chắc chắn chẳng phải là Thục vương.
Hoàng Phủ Nam lắc đầu: “Bá phụ thiếp ở kinh thành đã hơn mười năm, cũng ít giao du với các phiên vương.”
Thôi Tiệp Dư không tin những lời vòng vo đó, nàng cúi đầu chỉnh lại dây đàn rồi buông lời: “Hoàng Phủ tướng quân là người khôn ngoan, biết rằng quân cờ quý giá không thể đưa ra quá sớm.”
Lại có người bước vào, cung nữ dẫn theo hai thái giám, cùng khiêng vào hai chiếc rương nặng nề. Đối với những báu vật, kỳ trân được ban thưởng hay dâng tặng, Thôi Tiệp Dư đã sớm chán ngán.
Nàng hỏi bâng quơ: “Có những gì vậy?”
Một thái giám mở nắp rương: một rương là da cáo đen, da chuột bạc dày mịn; rương còn lại chứa các đồ vàng bạc. Nàng thậm chí còn chẳng thèm liếc mắt nhìn. Lại có một chiếc hộp gỗ mun, Thôi Tiệp Dư bước tới, dùng ngón tay khẽ đẩy thử.
Thái giám lập tức lấy từ tay áo ra tờ danh sách, bẩm báo: “Có an tức hương, linh lăng hương, tỳ lê lặc, a ma la, tổng cộng mười cân; long não mười viên, xạ hương hai mươi túi, thêm nhũ hương và thủy hoa hồng chừng hơn mười chén…”
“Gửi cho Hoàng Phủ tiểu thư hai chén thủy hoa hồng, còn lại thì thu cả đi.” Thôi Tiệp Dư buông cây đàn Nguyễn, đứng dậy tiễn chân khách.
Ra đến ngoài điện, Thôi Tiệp Dư dừng bước. Trong vườn nội điện, hoa đào đã rụng hết, trước sân là cây lựu, hoa lựu đỏ rực như lửa. Nàng đưa tay vén cành hoa đang chạm vào mai tóc, rồi quay sang, nói nhỏ như thủ thỉ với một người chị em thân thiết: “Gọi mấy lần mà ngươi không đến, có phải sợ ta không?”
Hoàng Phủ Nam trầm ngâm chốc lát, rồi thẳng thắn đáp: “Thiếp không sợ Tiệp Dư, chỉ là không rõ Tiệp Dư muốn thiếp làm gì.”
“Ngươi tưởng ta ở trong cung sống sung sướng lắm sao? Bệ hạ cũng đã sáu mươi tuổi rồi.” Thôi Tiệp Dư cười nhạt, dùng ngón tay nâng cằm Hoàng Phủ Nam, chăm chú nhìn nàng một lát. “Ngươi trông rất giống muội muội ta.”
Lông mi dài và đen như lông quạ của Hoàng Phủ Nam khẽ run. Mùi hương nồng nàn lại một lần nữa thoảng đến, móng tay sắc nhọn của Thôi Tiệp Dư chạm vào cổ nàng, khiến nàng thấy hơi khó chịu, bèn lùi lại một bước.
Thôi Tiệp Dư mỉm cười: “Ngươi nhận ta làm nghĩa mẫu nhé.”
Hoàng Phủ Nam sững người, lần này thì thật sự bất ngờ.
“Ngươi thấy ta chỉ hơn ngươi chục tuổi, nên không xứng về tuổi tác sao?” Thôi Tiệp Dư bật cười, “Ta cũng có thể nhận ngươi làm nghĩa muội, chỉ sợ Hoàng Phủ tướng quân không đồng ý thôi.”
Hoàng Phủ Nam giấu sự nghi hoặc trong lòng, đáp: “Tiểu nữ không dám.”
“Về sau thường đến chơi nhé, đừng sợ ta.” Thôi Tiệp Dư lưu luyến dặn dò nàng, vẻ mặt chân thành ấy, thậm chí có phần tội nghiệp.
Tối đến, Hoàng Phủ Đạt Hi cưỡi ngựa về phủ. Phu nhân đã ngồi đợi trong chính đường, không nén nổi lòng, vừa đón lấy mũ vải từ tay ông, đã vội nói ngay: “Thôi Tiệp Dư nói muốn nhận Hoàng Phủ Nam làm con gái.”
Hoàng Phủ Đạt Hi đang cởi dây lưng bằng da, động tác khựng lại. Ông xua tay, bảo bọn thị tỳ lui ra. “Con bé kể với bà sao?”
Phu nhân Hoàng Phủ gật đầu: “Đứa bé ấy biết suy nghĩ.”
Chuyện bị người Thổ Phiên cướp bóc thì đã giấu đi, nhưng lời của Thôi Tiệp Dư thật chẳng dễ từ chối. Hoàng Phủ Đạt Hi cau mày vuốt râu, ngẫm nghĩ một hồi, rồi khẽ than thở: “Thôi Tiệp Dư chính nàng ấy tuổi còn chưa lớn mà…”
“Tiệp Dư nhận con gái nuôi, không ngoài hai mục đích. Một là muốn đưa con bé tiến cung…”
Hoàng Phủ Đạt Hi vội lắc đầu: “Bệ hạ tuổi đã cao, lại mắc bệnh lâu ngày, trong lòng vốn không còn mấy hứng thú với sắc đẹp nữ giới. Huống chi trong cung nào thiếu mỹ nhân sao?”
Phu nhân Hoàng Phủ bật cười: “Ồ, lại có mỹ nhân mới vào cung à? Ai vậy?”
“Cái này…” Hoàng Phủ Đạt Hi vuốt râu, liếc bà một cái, “Ta làm sao biết được?” Ông hắng giọng, “Chuyện đó không tính. Còn mục đích thứ hai?”
“Hoặc là…” Bà ngập ngừng, “Triều đình bàn chuyện hòa nghị, phần lớn sẽ phải kết thân. Trước kia công chúa Dương Đình gả sang Thổ Cốc Hồn, công chúa Cao Lăng gả sang Hồi Cốt. Ngay cả các tiểu quốc như Thổ Dục Hồn, Tiết Diên Đà, cũng từng được kết thông gia. Năm ngoái triều đình còn định phong một vị công chúa gả sang Ô Toản, bàn bạc mấy tháng trời, thì phía Thổ Phiên lại chủ động đề nghị hòa nghị, nên chuyện ấy bị hoãn lại.”
Bà vừa nói vừa liếc nhìn Hoàng Phủ Đạt Hi, ông khẽ gật đầu, liền tiếp tục: “Nếu thật sự hòa nghị với Thổ Phiên, thì dĩ nhiên cũng phải gả công chúa. Không lẽ trọng bên này khinh bên kia? Thổ Phiên so với Thổ Dục Hồn hay Tiết Diên Đà, binh mã mạnh gấp ba bốn lần đó. Nếu nhận Thôi Tiệp Dư làm nghĩa mẫu, rồi được phong làm công chúa… thì…”
Hoàng Phủ Đạt Hi thở dài: “Nếu là con ruột của chúng ta, Hoàng thượng muốn gả sang Thổ Phiên, ta cũng chẳng thể phản đối. Nhưng…”
Ông nhìn vợ mình, ý tứ đã rõ: Hoàng Phủ Nam là dòng máu cuối cùng của nhà họ Đoàn, nếu đem nàng gả sang Thổ Phiên, bà thật sự nhẫn tâm sao? Như thế, làm sao ăn nói với Đoàn Bình đây?
Hoàng Phủ phu nhân cũng rầu rĩ: “Không thể để con bé đến Thổ Phiên. Nhưng cho nó rời khỏi kinh thành, chưa chắc đã là chuyện xấu.”
“Lục lang có biết chuyện này không?” Hoàng Phủ Đạt Hi chợt hỏi.
“Biết rồi. Con bé đến gặp ta thì nó cũng có mặt, đã nghe rõ ràng.”
“Nó nói sao?”
“Nó còn có thể nói sao? Một mình nó liệu có đánh tan hai mươi vạn đại quân Thổ Phiên được không?” Đôi mày bà vừa nhướng lên, rồi lại dịu xuống, sợ chọc giận phu quân, liền vội nói đỡ lời cho Hoàng Phủ Cật: “Lục lang không nói gì. Từ nhỏ nó đã hiểu chuyện.”
“Triều đình nay đang chiếm thế thượng phong trong cuộc chiến với Thổ Phiên, nếu hòa nghị, cũng là ban ân chứ không phải cầu hòa. Công chúa được gả đi, chắc chắn không phải chịu thiệt thòi.”
Hoàng Phủ Đạt Hi chuyển giọng, “Nếu bà không muốn, ta sẽ tìm cách từ chối với Hoàng thượng.” Câu này như một lời quyết đoán.
Phu nhân đứng dậy cởi giúp ông dây lưng, ông đặt chiếc túi cá chép vàng lên án thư: “Nhân chuyện này, ta cũng sẽ nhân tiện dạy dỗ Lục lang một phen. Đừng tưởng nó ngoài mặt nghe lời là thật.”
Ông mở cổ áo, ngồi duỗi chân bên mép giường, vừa nhấp một ngụm trà thì gia nhân ngoài cửa bẩm báo: “Có khách cầu kiến.”
Suốt một ngày bàn bạc quốc sự ở Chính Sự Đường, cổ họng khô khốc, vừa về đến nhà lại phải ứng phó đám tiểu quan đến bái kiến, Hoàng Phủ Đạt Hi chẳng buồn che giấu vẻ khó chịu: “Không gặp.”
Gã hầu có vẻ ngập ngừng: “Vị này… e là không tiện từ chối ạ.”
Hoàng Phủ Đạt Hi nhìn quanh bàn: “Không có danh thiếp sao?”
“Không có ạ.” Gã hầu đành nói: “Là người của phủ Thục vương.”
Hoàng Phủ Đạt Hi khẽ “ồ” một tiếng, nâng chén trà lặng im một lúc rồi hỏi: “Gần đây Lục lang có còn qua lại với Tam lang của phủ Thục vương không?”
“Lục lang không hề ra ngoài. Phủ Thục vương có mang sữa chua tới, Lục lang cũng không nhận.”
“Cũng coi như là biết điều.” Hoàng Phủ Đạt Hi thầm nghĩ: “Ta giữ mình đoan chính, ngồi thẳng thắn, thì sợ gì ai?”
Ông nặng nề đặt chén trà xuống, rồi gọi: “Hầu hạ ta thay y phục.”
Lý Linh Quân được gia nhân dẫn vào. Hắn mặc một chiếc trường bào màu nhã nhặn, không đeo vàng ngọc, càng tôn lên đôi mắt trong sáng như nước, điềm đạm mà không kiêu ngạo.
Hoàng Phủ Đạt Hi vốn có lòng tiếc tài, mỗi khi trông thấy Lý Linh Quân đều không khỏi nảy sinh chút do dự: kẻ này một lòng giữ thân trong sạch, thực sự là điều tốt sao? Quyền thế đối với quan thần cũng như mỹ sắc đối với thiếu niên, khiến ông dù trong giấc mộng cũng nhiều phen chao đảo…
Lý Linh Quân trước tiên chắp tay thi lễ, thậm chí còn khom lưng, nhẹ nhàng cất tiếng: “Hoàng Phủ tướng công.”
Hoàng Phủ Đạt Hi không đổi sắc mặt: “Tam lang, ngươi đến vào lúc này,” ông liếc về phía góc tường có đặt đồng hồ nước, “là vì chuyện công hay chuyện tư?”
“Vãn sinh không có chức tước, nào có tư cách cùng tướng công bàn bạc công vụ?” Lý Linh Quân khiêm tốn đáp, rồi nở một nụ cười chân thành:
“Tướng công chớ lo, ta đợi đến trời tối mới một mình cưỡi ngựa đến, không ai trông thấy cả.”
“Không phải công vụ,” Hoàng Phủ Đạt Hi đưa tay chỉ giữa hai người, “chẳng lẽ giữa ta với ngươi còn chuyện tư tình gì?”
“Vãn sinh thực lòng muốn nghe tướng công chỉ dạy, nhưng mỗi lần gặp ta, tướng công đều như hổ như lang.”
Trên mặt Lý Linh Quân thoáng hiện vẻ hoang mang: “Tuy ta lớn lên nơi vương phủ, được người kính trọng, nhưng bên cạnh chẳng có minh sư, cũng chẳng gặp bằng hữu chân thành. Từ Ích Châu đến kinh sư, bạn bè tri kỷ, duy nhất chỉ có Lục lang nhà tướng công mà thôi.”
Trong mắt hắn thoáng qua nét u buồn, nhưng rất nhanh lại bước nhanh đến án thư, chắp tay lần nữa, giọng đầy vẻ thành khẩn: “Ta không hiểu mình đã sai ở đâu, kính mong tướng công dạy bảo, ta nhất định sửa đổi.”
Hoàng Phủ Đạt Hi khẽ thở dài: “Linh Quân lang quân…”
“Tướng công sợ ta làm điều càn rỡ, liên lụy đến Lục lang sao?” Lý Linh Quân ngắt lời ông, chìa tay ra: “Tướng công nhìn xem, đây là vết chai ta có được khi luyện bắn cung.”
Hắn khẽ cười: “Thuở nhỏ ta có chút võ công, từng kiêu căng tự mãn, nhưng thi bắn cung lại thua Lục lang. Để theo kịp huynh ấy, ta thức suốt một đêm, chỉ để luyện cung tên cho thuần thục. Nếu Tướng công không chê, ta cũng nguyện đến Thản Châu làm một quân tốt như ai, đâu cần bận tâm thân phận tôn quý của hoàng tôn? Nhưng ta không thể cãi mệnh quân phụ… Ta đối với Lục lang, chỉ có kính phục và mến mộ, há lại nỡ làm hại huynh ấy dù chỉ nửa phần?”
Hoàng Phủ Đạt Hi nghe hắn nói, đành lắc đầu cảm khái: “Ngươi chẳng có lỗi lầm nào, nhưng…”
“Ta có lỗi.” Lý Linh Quân nét mặt cũng trở nên nghiêm nghị: “Lỗi ở chỗ đã để Lục lang thay mình ra trận đánh cầu.”
Hắn khẽ cười tự giễu: “Tướng công, ta tuy không phục ai, nhưng cũng tự biết mình ngu dốt. Nếu ta thật sự ra thi đấu với người Thổ Phiên mà thua, mất mặt cá nhân thì cũng đành, nhưng nếu vì thế mà khiến Thổ Phiên khinh thường Đại Hán, càng khiến chúng lấn tới trong việc hòa nghị, há chẳng phụ công tướng công bôn ba vất vả bấy lâu sao? Yến tiệc ở Lê viên, có Thánh thượng và các vương công ở đó, để họ tận mắt chứng kiến trong Hoàng Phủ có một vị lang quân dũng lược, há chẳng phải là việc tốt cho tiền đồ của Lục lang sao?”
Lời nịnh hót này khiến Hoàng Phủ Đạt Hi cũng thấy khoái chí, không nén được tiếng cười: “Linh Quân, tuổi ngươi còn nhỏ, làm sao nghĩ ra được nhiều đạo lý như thế?”
Lý Linh Quân chăm chú nhìn ông, nhẹ nhàng đáp: “Tướng công, ta mười ba tuổi đã thay phụ vương vào cung hầu hạ Thánh thượng, nếu không biết suy nghĩ, chỉ e đã chết không biết bao nhiêu lần rồi… Cũng bởi vậy, ta càng không muốn mất đi Lục lang. Một khi đã nhận định một người, chỉ cần huynh ấy không phản bội, thì ta nguyện cả đời đối xử tốt với huynh ấy.”
Hoàng Phủ Đạt Hi thầm nghĩ: “Ngươi chỉ là một thiếu niên, đã nói đến chuyện cả đời?”
Ông đứng dậy cười: “Thân phận của ngươi tôn quý, sao có thể tùy tiện đi lại ngoài đường phố? Ta sẽ sai hai gia nhân biết võ đưa ngươi về phủ.” Lời tuy là đuổi khách, nhưng trong giọng đã có thêm đôi phần quan tâm của một bậc trưởng bối.
Lý Linh Quân cũng không làm khó, vội vàng đứng lên, ngăn ông lại khi ông vừa bước ra hành lang: “Tướng công miễn tiễn. Người đông miệng lưỡi phức tạp”.
Hắn xoay chiếc nhẫn ngọc trên ngón tay, mỉm cười đầy tự tin: “Tuy tài bắn cung cưỡi ngựa của ta không bằng Lục lang, nhưng nếu có kẻ tiểu tặc ám toán, giết một hai tên cũng chẳng thành vấn đề.” Thần thái sáng láng của hắn khiến Hoàng Phủ Đạt Hi cũng không khỏi thầm ghen tị.
“Người đi, không tiễn.” Hoàng Phủ Đạt Hi chắp tay sau lưng, đứng đó nhìn theo bóng Lý Linh Quân rời đi. Một lúc lâu, ông mới cười khẽ.
Đêm đến, nằm trên giường, ông nghe phu nhân nhắc đến những lời đồn giữa Lý Linh Quân và Hoàng Phủ Nam. Trước đây ông chỉ cười cho qua, hôm nay lại không khỏi suy nghĩ.
“Gặp người thì nói lời người, gặp quỷ thì nói lời quỷ, quả là một đôi tiểu quỷ tinh quái…” Ông thầm nghĩ, “Chỉ tiếc là…” Suy nghĩ một lúc lâu, ông khẽ lắc đầu, thở ra một tiếng dài: “Hầy…”.