Tiệm Tạp Hóa Nhỏ Bên Quốc Tử Giám
Chương 22: Ngày Khai Trương
Tiệm Tạp Hóa Nhỏ Bên Quốc Tử Giám thuộc thể loại Linh Dị, chương 22 tiếp tục diễn biến hấp dẫn của câu chuyện. Đọc online miễn phí, cập nhật nhanh nhất tại Storya - nền tảng đọc truyện chất lượng cao.
Trời còn mờ mờ sáng, vài bóng cây gầy guộc in nghiêng trên nền gạch phủ sương mỏng. Trong phòng trực đầu hẻm, chiếc đèn gió lơ lửng, ánh sáng le lói lay lắt theo tiếng ngáy oang oang của lão lính gác đang ngủ say.
Chỉ còn hai ngày nữa là đến Đông Chí, trời sáng muộn hơn hẳn. Giữa cái lạnh thấu xương, đến cả con vẹt nhà họ Du – kẻ luôn huyên náo mỗi sáng – cũng rúc vào tổ, lười biếng chẳng buồn kêu. Xung quanh chìm trong lớp sương trắng đục, không khí tĩnh lặng đến lạ.
Duy chỉ có đầu hẻm, đối diện tiệm may, cánh cửa nhà Lâm tư tào bỗng vang lên tiếng “cót két” của bản lề – một âm thanh nhỏ bé mà phá vỡ cả sự yên ắng đông cứng của buổi sớm.
Một cậu bé đầu tròn, tóc dựng ngược như tổ chim, quấn kín người trong bảy tám lớp áo bông, đội mũ lông trùm kín tai, ngồi co ro ở bậc cửa khuất gió. Nó ngáp dài, hắng giọng, rồi theo thói quen, cất tiếng đọc thơ vang lanh lảnh:
“Than ôi!
Hỏi quân đi về phía tây bao giờ trở lại? Đường núi hiểm trở…”
Giọng đọc từ ngoài tường dần nhỏ lại, như túi xì hơi, cuối cùng chỉ còn thành tiếng lẩm bẩm:
"Hiểm trở."
Trong chăn ấm, Diêu Như Ý lẩm bẩm theo, mắt nhắm nghiền, không buồn mở. Nàng lăn qua lăn lại trong ổ chăn mềm mại, vừa ngáp vừa nghĩ: Bài *Thục đạo nan* này nghe hoài, chắc nàng sẽ thuộc lòng mất!
Lăn lộn một hồi, Như Ý khoác đại chiếc áo choàng rồi ngồi dậy chải đầu.
Trong phòng ấm áp đến mức người ta chỉ muốn ngủ thêm. Trời lạnh, nhà đã đốt tường sưởi – kiểu tường rỗng truyền nhiệt phổ biến từ thời Tống. Giữa hai gian nhà xây tường rỗng, lót bên trong bằng những ống ngói úp ngược nối liền, tạo thành đường dẫn khói từ bếp. Mùa hè bịt kín bằng gạch, mùa đông thì gỡ ra. Khi nấu nướng, hơi nóng theo đường ngói lan tỏa khắp tường, làm ấm cả phòng.
Mỗi tối, Như Ý đều bỏ ba viên than tổ ong vào bếp, bịt kín miệng lò bằng vung sắt, để cả nàng và a gia ngủ một đêm ấm áp – đến mức có lúc nóng đến khô họng. Trên bệ cửa sổ phải đặt khăn ẩm, nếu không hơi nước ngưng tụ sẽ nhỏ tong tỏng xuống đất.
Nàng búi tóc thành kiểu đồng tâm kế, cài trâm bạc hai nhánh bên trái, bên phải điểm một bông hoa trà bằng vải nhung. Hôm nay, nàng cố tình chọn chiếc váy bông màu đỏ sẫm, thêu họa tiết chim hỷ thước – trông vừa sang vừa vui mắt.
Xuyên qua thế giới này đã lâu, tay nghề tự chải tóc, búi đầu của nàng cũng ngày càng thành thạo!
Hôm nay là ngày khai trương tiệm tạp hóa nhỏ, lại đúng dịp trước Đông Chí – ngày lành do Du thẩm tử nhờ đạo sĩ Viêm ở Tam Thanh Quán chọn. Không thể lơ là, phải dậy sớm chuẩn bị mới được.
Vừa thay đồ, nàng liếc thấy cửa sổ sạch bong, không một vết mốc, liền khẽ mỉm cười mãn nguyện.
Vài hôm trước, cả hẻm góp tiền mời thợ dán giấy đến thay toàn bộ cửa sổ bằng giấy dầu ba lớp dành riêng cho mùa đông. Nhớ lời dặn của a gia, nghĩ đến nhà họ Lâm có thể về kinh đúng dịp Đông Chí, Như Ý đã bỏ thêm tiền để dán cửa luôn cho nhà họ.
Mùa hè thì ai cũng tự làm cho tiết kiệm, nhưng mùa đông tuyết nhiều, gió lớn, việc giữ ấm rất quan trọng. Dán không kỹ là cả nhà lạnh run. Thế nên mới phải mời thợ có nghề.
Dù bận bày hàng, tính sổ, Như Ý vẫn tranh thủ quan sát ông thợ râu dê dán cửa. Trước kia đọc sách thấy nói “cửa giấy”, nàng luôn ngờ vực: Làm sao chịu nổi gió mưa? Trong phim còn chấm nước miếng là chọc thủng được – vậy thì nguy hiểm đến đâu?
Giờ mới biết mình nghĩ quá đơn giản.
Hóa ra dán cửa sổ cũng công phu lắm!
Cửa sổ mùa đông phải dùng hai lớp giấy dâu trộn dầu và sáp làm nền, sau đó quét ba lớp hồ trộn nhựa cây để giấy cứng, chống rách và mối mọt. Tiếp theo là dán thêm hai lớp vải vụn trộn phèn chua để giữ nhiệt. Cuối cùng phủ thêm một lớp giấy dâu trộn dầu và sáp – khi có tuyết rơi sẽ tự tan, không thấm nước.
Xong việc, dùng thanh gỗ đóng khung ngang dọc ép chặt, quét hồ kín các khe hở để gió không lùa vào.
Một cánh cửa mỏng manh vậy mà bên trong dán đến tám chín lớp. Khi khô, sờ vào vừa căng vừa mịn, cứng như tấm bìa ép đặc – lấy tay chọc cũng không thủng nổi.
Cửa sổ mới, khung cửa lỏng lẻo cũng được sửa lại. Mỗi sáng tỉnh dậy, ánh sáng tràn vào trong trẻo, khiến Như Ý thấy lòng rộn rã, cảm giác mọi việc khởi đầu suôn sẻ.
Thu dọn xong xuôi, Như Ý không vội gọi a gia dậy, nàng nhẹ nhàng ra mở cửa phòng chứa đồ – căn phòng từng chất đầy đồ linh tinh, giờ đã hoàn toàn đổi khác.
Vừa bước vào, mùi gỗ thông pha dầu tùng thoang thoảng khắp nơi. Dọc theo tường là những kệ gỗ thông mới sơn, bóng loáng. Sau khi tháo vách ngăn, hai gian phòng liền nhau thành một tiệm rộng rãi, giữa các kệ để đủ không gian đi lại, xoay người thoải mái.
Nàng đi dọc dãy tủ hai mặt bày đầy hàng hóa, đến sát cửa sổ thì là quầy bán hàng cao ngang người. Diêu Như Ý bước vào, mở cửa sổ kéo vừa đóng xong, rút then gỗ, kéo nhẹ – tấm gỗ trượt ra theo rãnh đã được quét dầu, sau đó cắm chốt lại, lập tức thành một quầy hàng vững chắc. Nàng lần lượt bày lên đó những món ăn vặt, đồ chơi nhỏ xinh mà trẻ con ưa thích.
Ý tưởng tinh tế này là do Chu Cử Mộc nghĩ ra. Nhờ tấm gỗ này, nàng không tốn thêm diện tích, ban đêm cũng dễ thu gọn, chỉ cần cài then cửa sổ là xong.
Những chi tiết chu đáo như vậy, dù Như Ý không nói, Chu Cử Mộc vẫn nghĩ thay nàng: tiệm nhỏ, hắn liền mài tròn các góc tủ kệ để dù va phải cũng không đau; với tủ đặt chum sành, hắn đề nghị lót hai phiến đá thanh – vừa cách nhiệt, vừa chống thấm, giúp gỗ bền hơn.
Ban đầu Như Ý lo lót đá sẽ vượt ngân sách, nhưng hắn nói: “Cô nương đã muốn làm, thì phu thê ta chỉ lấy tiền vật liệu, công thì không tính.”
Làm xong mới thấy tiết kiệm được một khoản đáng kể.
Chiều cao quầy cửa sổ, độ cao ghế phía sau – Hà Hương còn đo kỹ chiều cao của Như Ý mới làm, để đứng nướng xúc xích hay ngồi trông tiệm đều vừa tầm, không mỏi mệt.
Trước khi giao cửa tiệm, Chu Cử Mộc còn dùng keo từ bong bóng cá dán kín các mối nối gỗ, mặt lưng tủ sát tường thì đóng thêm đinh chống đổ – chắc chắn đến mức lắc mạnh cũng không lung lay.
Tính ra việc đóng tủ mất bốn ngày liền, lại gặp mưa dài ngày nên phải đợi khô mới sơn. Sơn xong phải hong khô, rồi sơn thêm một lượt – mất thêm bốn, năm ngày nữa. Cứ thế, công trình kéo dài đến hết thu, mãi khi Đông Chí cận kề mới hoàn tất.
Quả nhiên, sửa sang cái gì cũng tốn kém hơn dự tính.
Nhưng dù tiêu nhiều tiền hơn, đây là lần đầu tiên Diêu Như Ý không thấy tiếc.
Ngày giao tiệm, nàng đi một vòng, mỗi kệ hàng đều giống hệt trong tưởng tượng – như thể tiệm tạp hóa của bà ngoại ngày xưa hiện ra trước mắt, khiến nàng vừa quen thuộc, vừa yên tâm.
Lúc mới thi công, nàng lo lắng không yên, suốt ngày ở lại tiệm quan sát, nhưng sang ngày thứ hai đã yên tâm, quay lại hẻm bán trứng trà và mì như thường.
Hai vợ chồng Chu Cử Mộc thật thà đến mức Như Ý nghĩ có lẽ đây là lần đầu họ nhận công trình lớn ở Biện Kinh – không biết cách bớt xén vật liệu, lại muốn làm mẫu để người ta biết tay nghề, nên dốc lòng dốc sức.
Khi thanh toán, dù không dư dả, Như Ý vẫn cố nhét cho Hà Hương một bao lì xì năm trăm văn – không phải để trả công, mà là tấm lòng ghi nhận tay nghề và nhân cách của họ.
Chu Cử Mộc mừng rỡ, mặt đỏ bừng, tặng lại nàng một hộp đồ nhỏ hắn tự chạm khắc lúc rảnh. Trong đó có tượng mười hai con giáp ngộ nghĩnh, đủ loại đế lót chén bát, thú vị nhất là những con mèo, chó gỗ chồng lên nhau – giống búp bê Matryoshka, lớn bọc nhỏ, nhỏ bọc nhỏ hơn, nhìn rất vui mắt.
Vì làm lúc rảnh, nét chạm còn vụng về, tùy hứng, nhưng Như Ý cầm trên tay lại thấy mộc mạc, đáng yêu. Nàng bày những món gỗ nhỏ ấy ở quầy cửa sổ – dưới ánh sáng sớm mờ ảo, trông như một dãy tiểu yêu tinh đang canh cửa.
Khi đến đo đạc, Hà Hương đã biết Như Ý định mở tiệm tạp hóa. Nhân giao tiệm, nàng liền đề nghị: “Nếu Diêu nương tử cần đồ tre gỗ, nhà ta còn tích được nhiều thìa đũa, giỏ mây, chiếu tre... Lúc tiệm vắng, ta với Cử Mộc lại làm thêm mấy món nhỏ đem bán ở chợ. Nếu tiệm của nương tử cần, cứ đến lấy hàng.”
Diêu Như Ý không do dự, đồng ý ngay.
Hà Hương vui mừng, hôm sau đã chở một xe hàng đến. Dù chỉ là thìa, đũa, đồ nhỏ – món nào món nấy cũng được mài giũa cẩn thận. Như Ý không nhìn lầm người.
Việc sửa tiệm mất hơn nửa tháng, nhưng quầy hàng nhỏ của nàng không hề ngưng nghỉ. Sau khi cùng Như Ý đi chợ phiên, Du thẩm tử thân thiết hơn hẳn. Thậm chí, khi nhà Như Ý sửa chữa, bà còn chủ động mời nàng dọn quầy sang trước nhà mình để bán trứng – khiến Như Ý vô cùng cảm động.
Những ngày này, nàng ngày càng thành thạo việc kho trứng, chỉ nửa canh giờ là xong từ luộc đến đập vỏ, ngâm nước gia vị là xong.
Trứng trà của nàng nay đã có tiếng, không chỉ học trò Quốc Tử Giám mà cả hàng xóm trong hẻm đều thành khách quen.
Mỗi ngày, nàng bán khoảng hai trăm quả trứng, hơn sáu mươi suất mì ăn liền. Thỉnh thoảng dậy sớm còn chiên thêm ít quẩy – gọi là “niện đầu” – bán kèm luôn.
Vậy là hơn bốn quan tiền bỏ ra sửa tiệm, từng đồng từng hào, cũng đã gỡ gạc lại được. Khoản vay trước đó của a gia cũng đã trả xong, thậm chí còn dư chút ít để nhập thêm hàng.
Nhờ thời gian sửa tiệm bị kéo dài, ngoài những thương nhân quen ở chợ, nàng còn quen thêm chục nhà cung cấp lớn nhỏ.
Phấn son nhà Cung Thắng Xuân, hạt dưa mứt quả họ Liễu, dầu muối tương giấm họ Hà, ngũ cốc tiệm gạo cũ, thợ làm diều và ô giấy tên A Lan, than xỉ họ Kim, Cảnh Ngọc Hiên bán văn phòng tứ bảo… Tất cả đều do nàng tự tìm đến, bỏ tiền túi mua thử, thấy tốt mới ký hợp đồng dài hạn.
Trong thời gian đó, Trình nương tử còn nhắc nhỏ nàng: đi ngang phòng trực thì chào hỏi lão binh gác cổng, thỉnh thoảng biếu chút đồ ăn nóng. Nếu lão đến mua trứng, thì cũng hay giảm chút tiền lẻ.
“Lão họ Hạng ấy, không biết đắc tội ai mà mãi không được thăng chức. Chưa từng nghe nhắc vợ con, cô đơn trấn giữ cổng hẻm này hơn hai mươi năm rồi. Nếu muội muốn buôn bán, người qua kẻ lại là lẽ thường. Lão tuy thấp cổ bé họng, nhưng lại canh ở đầu mối – làm thân được với lão, về sau mới thuận tiện.”
Diêu Như Ý suy ngẫm, rồi làm theo.
Quả nhiên, sau đó tiểu thương giao hàng đến, lão gác cổng cứ nhắm mắt cho qua. Miệng càu nhàu “lần này ngoại lệ”, nhưng lần nào cũng “ngoại lệ”. Lão giữ “giấy tùy thân” làm tin, rồi cho họ đẩy xe vào tận cửa nhà họ Diêu – tiết kiệm cho nàng biết bao công sức.
Cứ thế, nàng tích cóp được tiền suốt hơn nửa tháng.
Mỗi tối, nàng ngồi xổm trong bếp đếm từng đồng, ngày nào cũng rút ra chút tiêu, kiếm được lại cất vào. Hôm qua chợt nhận ra, dù bận rộn mấy ngày, trong nhà họ Diêu vẫn chỉ hơn hai mươi quan – vừa buồn cười, vừa bất lực: sao thấy như nỗ lực vô ích vậy?
Nhưng ngoảnh lại, kệ hàng nhỏ chất đầy đồ tạp hóa, đủ loại mặt hàng chen chúc, lòng nàng ấm áp hẳn. Mỗi ngày quét dọn tiệm, không nhịn được mà khẽ hát.
Ánh sáng ban mai le lói xuyên qua mây, Diêu Như Ý vội bê nồi trứng trà đã hầm từ hôm qua ra, rồi từ hầm lấy lên thau bột thịt xúc xích chuẩn bị sẵn. Trời lạnh, thịt đông cứng, nàng đặt thau lên lò sưởi chân thấp để rã đông từ từ.
Nàng lại bày ra tấm bảng quảng cáo do a gia viết giúp. Tấm bảng này cũng tốn thêm tiền nhờ Chu Cử Mộc tìm được tấm gỗ sam dài ba thước, quét hai lớp dầu hạt thông, để khô rồi dùng bút lông viết chữ – viết xong có thể lau sạch, tái sử dụng.
Tay a gia run, chữ mềm yếu, xiêu vẹo, Như Ý thấy dễ thương, nhưng ông cụ không hài lòng. Ông kẹp bảng vào khuỷu tay, ngồi lì cả ngày, viết rồi lau, lau rồi viết, khổ sở mãi mới ra được bản vừa ý – lúc ấy mới cho phép nàng mang ra trưng bày.
Hấp xong bánh bao sáng, nàng quét dọn nền, lau lại kệ hàng, kiểm tra toàn bộ hàng hóa. Thấy ổn, mới đi gọi a gia dậy.
Đợi ông rửa mặt xong, nàng đẩy ông cùng bánh bao nóng ra ngoài, đặt ông ngồi trên ghế dài dưới cửa sổ, cạnh lò sưởi ấm áp mà ăn.
Hôm trước, a gia tự ra sân giúp nàng nặn bánh than. Định đứng dậy thì trượt chân vì đống than xỉ, suýt ngã sấp mặt. Như Ý nghe tiếng, tim như muốn nhảy ra khỏi cổ – sợ hãi vô cùng.
Từ đó, ngoại trừ lúc ông ngủ trong phòng, nàng luôn mang ông theo khi bán hàng.
Khi bột thịt rã đông xong, Diêu Như Ý bắt đầu làm nóng chảo nướng. Hôm nay khai trương, nàng quyết định mở màn bằng món xúc xích thơm lừng.
Lúc ấy, ánh nắng vừa vượt qua bức tường, xuyên qua tán cây du già bên cổng Quốc Tử Giám, in xuống đất những mảng sáng tối đan xen, tĩnh lặng lạ thường.
Chuông sớm chưa điểm, ngõ vẫn vắng vẻ, nhưng nhà họ Trình và họ Mạnh đã lục đục dỡ cửa. Diêu Như Ý cũng vừa nướng xong mẻ xúc xích đầu tiên. Mùi thơm vừa bay ra, Tiểu Thạch Đầu Đầu – đang ngồi bậc cửa đối diện nhà họ Trình, vò đầu bứt tai học bài – đã ngửi thấy ngay.
Nhà họ Diêu mở cửa rồi!
Cậu lập tức cuộn sách lại, kẹp dưới nách, chạy ào sang. Chưa đến nơi, tiếng đã vang lên hào hứng:
“Như Ý tỷ tỷ, chào buổi sáng! Khai trương phát tài nha! Cho đệ hai quả trứng trà nhé, lát nữa nương đệ dậy sẽ qua trả tiền!”
Diêu Như Ý ngẩng đầu, mỉm cười:
“Được chứ, đệ ngồi đợi một chút, nước sốt sôi rồi tỷ vớt cho. Hôm nay tỷ còn có xúc xích nướng, hai cây mười văn, có muốn thử không?”
“Muốn muốn muốn!”
Vừa đến, Tiểu Thạch Đầu đã thấy chiếc lò đất lùn kỳ lạ, mùi thơm quyến rũ khiến đầu óc choáng váng. Cậu định hỏi là gì, nhưng Như Ý tỷ tỷ đã lên tiếng, liền gật cái rụp, ngoan ngoãn ngồi xuống ghế gỗ cạnh Diêu gia gia chờ đợi.
Vừa đợi vừa tò mò ngó nghiêng.
Cổng nhà họ Diêu mở toang, bên khung cửa dựng nghiêng một tấm bảng gỗ – sợ gió thổi đổ nên còn lấy hai hòn đá chèn ở đáy.
Tiểu Thạch Đầu nhìn rõ chữ viết: trên cùng là “Khuyến mãi Đông Chí” bằng bút chu sa, bên dưới ghi “Nước táo gừng sợi – một văn một bát”, bên cạnh vẽ chiếc ấm trà xiêu vẹo; phía phải là xiên kẹo hồ lô, ghi “Kẹo hồ lô nhỏ, mứt trái cây – mua hai tặng một”; bên trái là cây xúc xích to đùng, ghi “Xúc xích nướng mới – một cây sáu văn, hai cây mười văn”.
Giữa bảng là hàng chữ nổi bật “Tạp hóa Diêu Ký”, dưới còn vẽ thêm bông hoa nhỏ.
Cậu nuốt nước miếng ực một cái, nhón chân nhìn vào ô cửa sổ bán hàng – chỉ liếc một cái mà như thấy cả thế giới: những xiên kẹo hồ lô óng ánh như hổ phách, cắm trên quả cầu rơm. Ngoài phố chỉ bán kẹo hồ lô toàn sơn tra, còn Như Ý tỷ tỷ thì xâu xen táo, lê, mộc qua lẫn sơn tra – mỗi xiên chỉ hai quả sơn tra, kẹp giữa hai loại trái cây khác, xiên tre ngắn, trông xinh xắn đáng yêu.
Bên cạnh còn tấm biển nhỏ: “Kẹo hồ lô nhỏ – một văn một xiên”.
Rẻ quá! Tiểu Thạch Đầu thèm đến rỏ dãi.
Bên cạnh là các hũ kẹo xếp ngay ngắn, mỗi hũ dán mảnh giấy đỏ hình thoi ghi tên: “Kẹo ô mai”, “Kẹo hương trái cây”, “Bánh đậu”, “Kẹo lê cao”, “Kẹo mơ đen”, “Kẹo sư tử”...
Kế bên là thịt khô thái mỏng, gói lá sậy, xếp trong khay tre, phủ lớp vải bông chống côn trùng.
Trứng trà để góc cửa sổ, đựng trong thau gốm, dưới có bếp lò chân thấp. Nước sốt chưa sôi hẳn, chỉ lăn tăn bong bóng nhỏ, tí tách kêu.
Ánh than hồng soi sáng đôi mắt long lanh của Tiểu Thạch Đầu.
Cậu muốn ăn hết mọi thứ!
Nhưng túi trống không.
Cậu do dự: muốn mua kẹo, lại sợ nương biết sẽ bị mắng. Liền nhón chân nhìn ra cổng xem nương dậy chưa. Đang ngó nghiêng thì ánh mắt bị hút vào dãy đồ chơi treo bên cửa sổ: ô giấy dầu, diều nhỏ, gà gỗ máy, chuồn chuồn tre, búp bê vải, cầu lông gà, ná cao su...
A! Cậu thật ước được ở nhà họ Diêu! Thế thì chẳng cần mua cũng được chơi thỏa thích!
“Tiểu Thạch Đầu Đầu, trứng trà được rồi, lại đây, tỷ vớt cho.”
Nước sốt sôi ùng ục, Diêu Như Ý vừa gọi, vừa xắn tay áo vớt trứng.
Tiểu Thạch Đầu tiếc nuối quay lại, nhìn Như Ý tỷ bận rộn, không quên làm nũng:
“Như Ý tỷ tỷ, đệ muốn quả nào nứt vỏ, có nước sốt thấm vào bên trong ấy.”
“Được, tỷ sẽ chọn cho đệ quả thấm vị nhất.”
Nàng cầm muôi tre, cúi người vớt trứng từ đáy nồi lên cho cậu.
Ánh sáng ban mai chiếu nghiêng lên má nàng, gương mặt trắng nõn ửng hồng, mịn màng như đóa phù dung nở sớm giữa đông.
Tiểu Thạch Đầu thầm nghĩ: Như Ý tỷ tỷ thật xinh đẹp.
Thực ra nàng không cao lắm, nhưng tay chân thon dài, nên nhìn tổng thể không thấy thấp.
Trời se lạnh, nàng mặc áo bông ngắn màu lam sẫm thêu lá ngân hạnh bên trong, vạt thắt gọn trong đai lưng. Bên ngoài là váy cánh én đỏ, khoác thêm áo dài chần bông nền trắng thêu lan tinh tế. Áo khoác không cài kín, buông nhẹ, lộ ra lớp áo lam, váy đỏ bên trong – tôn dáng người mảnh mai, eo thon, nghiêng nghiêng một nét thanh tao.
Tiểu Thạch Đầu gần đây mới để ý thấy Như Ý tỷ tỷ đẹp đến vậy. Trước kia hình như cậu chưa từng thấy nàng. Nương cậu nói, khi Diêu tiên sinh còn khỏe, Như Ý tỷ tỷ hầu như không ra khỏi nhà. Đừng nói cậu, cả hẻm cũng ít ai thấy mặt nàng.
Nàng không phải kiểu mỹ nhân khiến người ta trầm trồ “xinh quá”, nhưng có nét dễ mến, dễ gần.
Đặc biệt là khi cười – đôi mắt hạnh đen tròn khẽ cong như trăng non, hai má hiện hai lúm đồng tiền.
Cười một cái, mấy cậu học trò mua trứng ở quầy đều ngơ ngẩn: có người vấp ngã, kẻ lắp bắp, có người trả tiền xong chạy mất mà quên lấy đồ.
Tiểu Thạch Đầu thầm nghĩ: Thật chẳng có chí khí!
Cậu thì không bao giờ quên đồ ăn – ăn là việc quan trọng nhất!
Cũng như cha hay trêu: “Học hành quan trọng hay ăn cơm quan trọng?” Dù hỏi bao nhiêu lần, cậu cũng trả lời không do dự: “Ăn cơm quan trọng!”
Cha cậu ngửa mặt than trời: “Hỏng rồi, đứa này cũng hỏng luôn rồi…”
“Xong rồi, của đệ đây.”
Diêu Như Ý vừa đưa trứng cho Tiểu Thạch Đầu, vừa xoa xoa hai búi tóc nhỏ trên đầu cậu.
Lũ trẻ bây giờ, trai gái gì cũng búi tóc hai bên. Đầu cậu to tròn, mặt béo phúng phính, như cái bánh bao thịt – buộc thêm hai búi tóc nhỏ tròn vo, càng khiến người ta yêu mến.
Tiểu Thạch Đầu nhận trứng, lập tức bóc ăn. Nhưng vỏ nóng, cậu đành đặt lên đùi, lấy móng tay nhẫn nại bóc từng mảnh.
Diêu Khải Chiêu ngồi nhai bánh bao bên cạnh, liếc cậu một cái – Tiểu Thạch Đầu giật mình ngồi thẳng, vội cúi đầu lễ phép:
“Chào buổi sáng, Diêu tiên sinh!”
Diêu Khải Chiêu còn dính vụn bánh ở miệng, gật đầu trang trọng:
“Học hành chăm chỉ như thế, rất tốt.”
Tiểu Thạch Đầu vừa thổi trứng, vừa liếc thấy chiếc yếm trên cổ ông, thêu dòng chữ “A gia ta là người đẹp trai nhất”, rồi lại nhìn gương mặt nhăn nheo, đôi mắt tròn to dữ dằn – trong lòng thầm nhấm nháp nước sốt trên ngón tay: Diêu tiên sinh đẹp trai chỗ nào chứ?
Diêu Như Ý lặng lẽ nướng xúc xích, ngoảnh lại thấy a gia và Tiểu Thạch Đầu ngồi chụm đầu ăn uống nghiêm túc, nàng mỉm cười.
Tiểu Thạch Đầu mới bảy, tám tuổi – nàng cũng không nhớ rõ. Chính là đứa bé Du thẩm tử từng trêu hôm đi chợ, đứa sinh ra khiến Lâm tư tào ngất xỉu, con trai út nhà họ Lâm. Vì chuyện đó mà Lâm tư tào buồn bã mãi, đến giờ chưa đặt tên thật, chỉ gọi tạm là Tiểu Thạch Đầu.
Cũng chính là cậu bé mỗi sáng “Than ôi!” đọc sách làm Như Ý tỉnh giấc – và là em trai ruột của Lâm Duy Minh.